17- Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị - Sài g̣n
Theo tài liệu [1] : Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị được thành lập vào năm 1956 tại Sài g̣n, trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn. Trường có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo cán bộ Tâm Lư Chiến.
Theo tài liệu [2] : Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị là một đơn vị trực thuộc Nha ChiếnTranh Tâm Lư sau là Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị.
Theo tài liệu [2] & [3] : Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị tọa lạc tại đường Đặng Đức Siêu, Sài G̣n, sau chuyển về đường Lê Văn Duyệt, Gia Định.
(Phụ chú : Đường Đặng Đức Siêu nằm trong Quận 2,Sài g̣n. Một đầu của đường này bắt đầu từ đường Bùi Thị Xuân, gần Nhả Thương Từ Dũ, đầu kia đụng với đường Cống Quỷnh, Vơ Tánh và Phạm Ngũ Lăo ).
Hơn nửa theo tài liệu [4] & [5] & [6] & [7] : Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị có thể là hậu thân của Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai thành lập năm 1956 tại Chợ Lớn-Sài g̣n. Trường này lúc đó có chương tŕnh huấn luyện về T́nh Báo, An Ninh và Chiến Tranh Chính Trị.
Sau v́ nhu cầu Chiến Tranh Tâm Lư (CTTL) mỗi ngày một gia tăng, Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai không c̣n huấn luyện về Chiến Tranh Tâm Lư nữa, nên từ năm 1961 ,Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai tách ra làm hai phần :
1-Trường Quân Báo Cây Mai thửa hưởng cơ sở có sẳn của Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai ở khu Cây Mai- Chợ Lớn (Xem thêm chi tiết trong bài Trường Quân Báo Cây Mai của cùng tác giả) .
2-Và Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Tâm Lư (HL/CTTL ) trực thuộc Nha CTTL- Bộ Quốc Pḥng. Trụ sở đầu tiên của Trung Tâm này tọa lạc tại số 15, đường Lê Thánh Tôn,Quận 1-Sàig̣n với khóa huấn luyện cao cấp nhất của nghành CTTL là khóa Tham Mưu CTTL gần hơn 100 học viên từ cấp Đại Úy tới Đại Tá.
Sau đó từ trung tuần tháng 10 năm 1964, Trung Tâm HL/CTTL được dời về trại Lê Văn Duyệt-Quận 3-Sài g̣n và biến cải thành một quân trường mang tên Trường Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) trực thuôc Cục Chính Huấn trong hệ thống Tổng Cục CTCT.
Tài liệu [2] cũng ghi : Nha Chiến Tranh Tâm Lư cũng tổ chức những khóa học cho quân nhân ở trụ sở số 15 đường Lê Thánh Tôn, Sài G̣n.
Phù hiệu Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị – H́nh trích từ tài liệu [1] & [2]
Khẩu hiệu của Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị: Trí-Nhân-Dũng-Thành
V́ Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị trực thuôc Cục Chính Huấn trong hệ thống Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị nên để cho tài liệu được đầy đủ xin ghi thêm lược sử thành lập của Tổng Cục Tranh Chính Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Theo tài liệu [2] & [8] :
Tổng Cục Chiến tranh Chính Trị là cơ quan tuyên truyền, ban đầu trực thuộc Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa. Cơ quan này được thành lập dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa với tên gọi Nha Chiến Tranh Tâm Lư, nhằm mục đích xây dựng ư thức chính trị căn bản trong quân ngũ và vận động sâu sát trong tầng lớp đồng bào (chiến tranh nhân dân) trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam.
Ngành Chiến Tranh Tâm Lư có từ năm 1952 với một ban Tác Động Tinh Thần thành lập tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tới giữa năm 1953, ban này mở rộng thành pḥng gọi là Pḥng Tác Động Tinh Thần do Trung tá Trần Đ́nh Lan phụ trách. Pḥng này theo sắp xếp tham mưu là Pḥng 5 do Thiếu tá Trần Tử Oai giữ chức vụ tham mưu phó Tác Động Tinh Thần tại Bộ Tổng tham Mưu. Khi Nha Chiến Tranh Tâm Lư thành lập, băi bỏ chức vụ tham mưu phó Tác Động Tinh Thần nhưng Pḥng 5 vẫn duy tŕ tại Bộ Tổng Tham Mưu. Nha này do Trung Tá Nguyễn Văn Châu làm Giám Đốc.
Hoạt động của Nha Chiến Tranh Tâm Lư chủ yếu là những buổi truyền thanh, truyền h́nh, ấn loát, chiếu bóng, và tŕnh diễn văn nghệ. Những buổi phát thanh trên đài có những chương tŕnh tân nhạc như “Nhạc thời chinh chiến” và “Tiếng ca gửi người tiền tuyến.” Ngoài ra là “Chương tŕnh thép súng” trên đài truyền h́nh hay “Chương tŕnh Dạ Lan” trên radio,đài vô tuyến Việt Nam.
Cha đẻ của chương tŕnh Dạ Lan là Đại Tá Trần Ngọc Huyến.
Chương tŕnh Dạ Lan :
Đêm đêm trên làn sóng điện của đài phát thanh Quân Đội, từ 7 giờ đến 9 giờ, giọng nói rất đặc biệt của “người em gái hậu phương”, rất thiết tha, truyền cảm, “nhỏng nhẻo”, t́nh tứ có mănh lực thu hút t́nh cảm của các binh sĩ trên bốn vùng chiến thuật. “Em gái hậu phương”, “Anh trai tiền tuyến” là những từ ngữ rất quen thuộc được nghe thấy trong những bài thơ ,bản nhạc thịnh hành thời đó.
Chương tŕnh Dạ Lan là một nét độc đáo của Nha Chiến Tranh Tâm Lư, cộng với nét đặc biệt của giọng nói Dạ Lan, đă được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là những chiến sĩ độc thân, xa nhà.
Chương tŕnh Dạ
Lan bao gồm các mục: tin tức, thời sự, điểm
báo, văn nghệ và thư tín.
Phần hấp dẫn nhất là nhạc và thư tín. Dạ
Lan giới thiệu từng bản nhạc, trả lời
từng bức thơ từ tiền tuyến gởi về
KBC 3168. Trả lời riêng biệt tên từng anh,
đơn vị, vị trí đóng quân…không ai bị bỏ
quân cả.
Thơ từ tiền đồn xa xôi tới tấp gởi về đến nổi đài Quân Đội phải tuyển dụng thêm nhiều nữ nhân viên đọc thơ và viết bài trả lời để cho Dạ Lan đọc.
Thành phần của Chương tŕnh Dạ Lan gồm có :
Xướng ngôn viên:
Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) và Hồng Phương Lan (Dạ
Lan 2);
Câu chuyện hàng ngày : Lưu Nghí;
Điểm báo : Nguyễn Triệu Nam;
Phần nhạc : Hai Nhạc Sĩ Đan thọ và Ngọc Bích;
Chọn bài vả dẫn nhạc : Huy Phương;
Phần tin tức : Ban Tin Tức cảu Đài Quân Đội;
Thư tín: Cô Ngọc Xuân và một số cô phụ trách, chọn lựa thơ, viết bài trả lời cho XNV Dạ Lan đọc;
Ngoài ra c̣n có nhiều văn nghệ sĩ đă từng tham gia, đóng góp cho chương tŕnh Dạ Lan như các nhạc sĩ: Ngọc Bích, Đan Thọ, Anh Ngọc, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Đức, Văn Đô, Trần Thiện Thanh, Trần Trịnh, Đào Duy, Thục Vũ... Các nhà văn, nhà thơ như Huy Phương, Nguyễn Triệu Nam, Nhất Tuấn, Nguyễn Quốc Hùng (thầy khóa Tư), Dương Phục, Phạm Huấn, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp, Tô Kiều Ngân…
Ban nhạc AVT thành lập năm 1958 với ba ca sĩ Anh Linh, Vân Sơn, và Tuấn Đăng là một trong những nhóm văn nghệ của Nha Chiến Tranh Tăm Lư.
Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị
Năm 1965, thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, Nha Chiến Tranh Tâm Lư được cải danh thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tọa lạc trên Đại Lộ Thống Nhất,quận 1-Sài g̣n, đối diện với Trường Văn Hóa Quân Đội .

Cổng Trường Văn Hóa Quân Đội ngày bầu cử Hội Đồng Đô Thành- Ảnh manhhai
Tại mỗi đơn vị từ các quân, binh chủng, quân đoàn, sư đoàn, quân trường, trung tâm huấn luyện, tiểu khu đều có khối hoặc Pḥng Chiến Tranh Chính Trị và có chức vụ tham mưu phó Chiến Tranh Chính Trị để lo phần vụ của ngành. Ngoài ra c̣n có các Tiểu đoàn Chiến Chiến Tranh Chính Trị phối hợp các Biệt Khu và Quân Khu :
Tiểu Đoàn 10 (phục vụ Quân Khu 1);
Tiểu Đoàn 20 (phục vụ Quân Khu 2);
Tiểu Đoàn 30 (phục vụ Quân Khu 3);
Tiểu Đoàn 40 (phục vụ Quân Khu 4);
Tiểu Đoàn 50 (phục vụ Biệt Khu Thủ Đô);
Và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương .

Thiệp chúc Quư Sữu 1973 của Khối Chiến Tranh Chính Trị Quân Đoàn III – Quân Khu 3- H́nh trích từ tài liệu [10]
Từ cấp Trung
đoàn, Tiểu đoàn đều có Ban 5 để chăm
lo về tinh thần cho binh sĩ. Cấp đại đội,
vị đại đội phó đặc trách về Chiến
Tranh Chính Trị. Tại mỗi tiểu khu có một tham
mưu phó Chiến Tranh Chính Trị và một đại
đội Chiến Tranh Chính Trị tiểu khu.
Để phục vụ tinh thần các chiến sĩ từ
tiền tuyến đến hậu phương, các
phương tiện truyền thông chính gồm có :
– 1 đài phát thanh quân đội ;
– 1 chương tŕnh truyền h́nh quân đội.
Báo chí gồm có:
– Nhật báo Tiền Tuyến;
– Nguyệt san Chỉ Đạo;
– Bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Ḥa ;
– Nguyệt san Tiền Phong.
Tổng Nha Tuyên Úy có 3 tờ nguyệt san của 3 tôn
giáo như:
– “Tinh thần” của Công Giáo;
– “Đại Từ Bi” của Phật Giáo;
– “Niềm Tin” của Tin Lành.
Ngành Chiến Tranh Chính Trị đă chọn NGUYỄN
TRÃI, vị Anh Hùng của dân tộc Việt Nam làm
Thánh Tổ cho ngành.
Tổng Cục Chiến Tranh Chính trị gồm có có năm (5) Cục :
1. Cục Chính Huấn;
2. Cục Tâm Lư Chiến ;
3. Cục Xă Hội ;
4. Cục An Ninh Quân Đội ;
5. Cục Quân Tiếp Vụ .
Cục Chính Huấn
Công tác chính của Cục Chính Huấn
là : tổ chức huấn luyện ,giáo dục binh sĩ
qua các lớp học và sinh hoạt. Cục Chính Huấn
cũng điều hành trường Chiến Tranh Chính Trị
cho đến khi trường này chuyển lên Đà Lạt
năm 1967. Cơ quan này đă sáng tác nhiều bài nhạc
theo thể hùng ca để đôn đúc tinh thần tranh
đấu của dân quân như những bài:
Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị,
Thề Không Phản Bội Quê Hương,
Trên Đầu Súng,
Bài Ca Chiến Thắng,
Giặc Từ Miền Bắc Vô Đây...
Cục Tâm Lư Chiến
Cục Tâm Lư Chiến thực hiện tác vụ tuyên truyền, điều hành đài phát thanh quân đội, tờ báo Tiền tuyến cùng những công tác dân vận. Một đóng góp không nhỏ trong Cục Tâm Lư Chiến là Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương với nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, và diễn viên tŕnh diễn văn nghệ cho các quân binh chủng và dân chúng.
Đối với miền
Bắc và lực lượng việt cộng, Cục Tâm Lư
Chiến cho phát thanh đài:
Tiếng Nói Tự Do;
Mẹ Việt Nam;
Gươm Thiêng Ái Quốc (1965);
Tiếng Nói Nam Bộ;
Tiếng Nói Khmer;
Mặt trận Dân Tộc Đông Dương.
Hai đài sau có chủ đích gây chia rẽ giữa Khmer Đỏ và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam đang trú ẩn trên đất Cao Miên.
Ca sĩ Tâm Đan và Phương Dung tŕnh diễn tại Đài Phát thanh Quân đội năm 1965

Thiệp Chúc Tết Xuân Ất Tỵ 1965 của Cục Tâm Lư Chiến QLVNCH- H́nh trích từ tài liệu [10]
Cục Xă Hội
Cục Xă Hội hỗ trợ gia đ́nh quân nhân ,có cơ sở đào tạo nữ trợ tá xă hội, cấp sĩ quan để liên lạc với các gia đ́nh binh sĩ, thăm thương binh, và giúp đỡ gia đ́nh tử sĩ. Nha Tuyên Úy Phật Giáo, Công Giáo, và Tin Lành đều thuộc Cục Xă Hội.
Xin ghi thêm ,theo tài liệu liệu [11] : Nha Tuyên Úy do các tu sĩ đảm trách trong các hoạt động Mục vụ, Phật vụ về tinh thần cho các binh sĩ thuộc tôn giáo của ḿnh, thực hiện các nghi lễ tôn giáo tại khu vực đóng quân. Cấp bậc tuyên úy trong quân lực VNCH là cấp bậc giả định để tương xứng với đơn vị trách nhiệm .Tuyên úy trong quân lực VNCH được ủy nhiệm từ các Ṭa Tổng Giám Mục, Hội thánh Tin Lành hay Giáo Hội Phật Giáo VN-Viện Hóa Đạo.
Cục An Ninh Quân Đội : Trông coi phản gián .
Cục Quân Tiếp Vụ
Đây là một cơ quan cung cấp hàng hóa nhu yếu phẩm như thuốc lá, sữa đặc, đường cát, v.v. cho binh sĩ và gia đ́nh , dưới dạng miễn thuế,giá thấp hơn giá thị trường. ( Sau này Cục Quân Tiếp Vụ chuyển sang trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận) ;
Ngoài ra , Tổng cục Chiến
tranh Chính trị có các đơn vị trực thuộc như
sau :
Trung Tâm Huấn Luyện Chiến Tranh Chính Trị . Như
đă tŕnh bày ở trên ;
Trường Đại Học Chiến
Tranh Chính Trị ;
Cục Dân Vận Chiêu Hồi;
Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị
Cơ sở này
trước tiên là trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai
thành lập vào năm 1956. Năm 1964, trường chính thức
mang tên trường Chiến Tranh Chính Trị trực thuộc
Cục Chính Huấn. Năm 1966, theo sắc lệnh 48/SL/QP
ngày 18 Tháng Ba th́ cơ sở này trở thành Đại Học
Chiến Tranh Chính Trị và chuyển lên Đà Lạt ở
số 78 đường Vơ Tánh. Năm 1973, trường
được mở rộng thêm cơ sở ở khu Chi
Lăng (Đà Lạt) với mục đích đào tạo
các sinh viên sĩ quan. Cơ sở cũ được dành
để tổ chức huấn luyện các khoá: cơ bản,
trung cấp, và cao cấp Chiến Tranh Chính Trị cho các
sĩ quan từ các đơn vị về thụ huấn.
Tính đến năm 1975, trường đă tổ chức
huấn luyện được 40 khóa. Ngoài ra trường
c̣n đào tạo 6 khóa sinh viên sĩ quan (nguyên là các sinh viên
đang thụ huấn tại trường Vơ Bị Quốc
Gia) với chương tŕnh 2 năm hoặc hơn. Có tất
cả 912 sinh viên sĩ quan của 4 khóa đă tốt nghiệp
với cấp bậc thiếu úy hiện dịch, 2 khóa c̣n
lại đang trong thời gian thụ huấn th́ xảy ra
biến cố 30 Tháng Tư năm 1975. Trường đă
qua các vị chỉ huy trưởng sau đây [4]:
Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh;
Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh.
(Xem thêm chi tiết trong bài Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị của cùng tác giả).
Cục Dân Vận Chiêu Hồi
Theo tài liệu [12] : Chương tŕnh Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Ḥa là một chương tŕnh thành công. Chương tŕnh Chiêu Hồi ngày đó đă bắc nhịp cầu thông cảm giữa những người ở trong chính quyền chống cộng tha thiết với tiền đồ quốc gia dân tộc, với những người ở trong hàng ngũ cộng sản nhưng ư thức sự lầm lạc của ḿnh, đă ngu muội chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản mà cứ tưởng là phục vụ quyền lợi của quê hương, của dân tộc.
Chương tŕnh Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Ḥa được xây dựng và tiến hành trên nền tảng chính sách Đại Đoàn Kết Dân Tộc. Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa chủ trương lấy t́nh thương xóa bỏ hận thù, chân thành mở rộng ṿng tay đón tiếp những anh chị em ruột thịt chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, lầm lạc phục vụ chủ nghĩa cộng sản mà tưởng là phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc. Tất cả các cán binh cộng sản ra hồi chánh, bất kể quá tŕnh hoạt động bản thân trong hàng ngũ cộng sản như thế nào, nếu ư thức sự lầm lạc trong quá khứ, và nhiệt t́nh phục vụ lư tưởng tự do dân chủ, đều được phục hồi đầy đủ quyền công dân và hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.
Chương tŕnh Chiêu Hồi kêu gọi những thành phần viêt cộng trong Mặt Trận Giải Phóng MN (Sic) và CSBV (Sic) trở về với chính nghĩa quốc gia. Từ năm 1963 cho đến ngày tàn cuộc chiến 1975, Chiêu Hồi trải qua nhiều cơ cấu tổ chức khác nhau, kêu gọi được hơn 230,000 hồi chánh viên, buông súng trở về với “quốc gia”.
Ngày
17 tháng 4 năm 1963, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ban
hành Quyết định thành lập Chương tŕnh Chiêu hồi,
theo đề nghị của Cơ Quan Nghiên Cứu Việt-Mỹ
và Viện Trợ Mỹ (USOM).
Ư kiến ban đầu do Sir Robert Thompson, chuyên viên Tâm Lư Chiến
của cơ quan viện trợ Anh Quốc đề
xướng.
Chiêu Hồi được thực hiện từ năm 1963, áp dụng kinh nghiệm của Phi Luật Tân trong việc chiêu dụ cộng sản Hukbalahap, và kinh nghiệm của Sir Robert Thompson thuộc quân đội Anh đă b́nh định Mă Lai Á.
Năm 1968, chương tŕnh phát triển mạnh, kết quả tốt nên được nâng lên thành một Bộ trong chính phủ, Bộ Chiêu Hồi, mỗi tỉnh có một Ty Chiêu Hồi. Ngân sách Bộ Chiêu Hồi do viện trợ Mỹ đài thọ.
Hoạt động :
Bộ Chiêu Hồi (BCH) phối hợp với Bộ Quốc Pḥng, Bộ Thông Tin, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, các quân binh chủng, cơ quan Thông Tin HK (JUSPAO), cơ quan viện trợ USOM, Cố Vấn Mỹ, Tổng Cục CTCT, Cục Trung Ương T́nh Báo, Cục An Ninh QĐ, Tổng nha Cảnh Sát QG, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật Bộ TTM, Chiến Dịch Phượng Hoàng, các đài phát thanh và truyền h́nh, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Mẹ Việt Nam và báo chí.
Ở cấp trung ương c̣n có Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương ở Thị Nghè và Trung Tâm Huấn Nghệ Trung Ương ở Biên Ḥa. Các nha được chia thành sở, sở chia thành pḥng, pḥng chia thành ban.
Ở cấp quân khu
có Văn Pḥng Đại Diện Chiêu Hồi và Trung Tâm Chiêu
Hồi cấp quân khu.
Ở cấp tỉnh có Ty Chiêu Hồi do Trưởng Ty
điều khiển, và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp tỉnh.
Riêng Đô Thành Sài G̣n có Sở Chiêu Hồi do một Chánh sự
vụ điều khiển.
Ở cấp quận có Chi Chiêu Hồi do Trưởng Chi cầm
đầu. Cấp quận không có trung tâm tiếp nhận
thường trực.
Ngành Chiêu Hồi không có cán bộ cấp xă. Phần vụ chiêu hồi ở xă do cán bộ Thông Tin phụ trách.
Nhân viên Bộ Chiêu Hồi ước chừng 11.000 người, gồm công chức chính ngạch, công nhật, hợp đồng, quân nhân biệt phái, cán bộ chiêu hồi, và 90 đại đội vơ trang tuyên truyền tuyển chọn trong số cán binh cộng sản ra hồi chánh.
Ngân sách hàng năm của Bộ Chiêu Hồi (thời gian 1967-1974) trung b́nh chừng khoảng 500-600 triệu đồng Việt Nam phần ngân sách quốc gia, và chừng khoảng 600-700 triệu đồng Việt Nam phần ngân sách ngoại viện.
Bản nhạc Ngày Về (Tung cánh chim t́m về tổ ấm) của Hoàng Giác được dùng làm nhạc hiệu của các chương tŕnh chiêu hồi.
Nhiều truyền đơn được phi cơ thả xuống các vùng việt cộng, kể cả tờ Giấy Thông Hành có in h́nh quốc kỳ VNCH và của các quốc gia đồng minh. Quân đội Úc có truyền đơn riêng dùng trong các cuộc hành quân Tâm Lư Chiến, mang tên “Xuân Đoàn Tụ” kêu gọi hồi chánh.

Giấy thông hành Chiêu Hồi- H́nh trích từ tài liệu [13]
Ngày 18 tháng 02 năm 1973, Bưu Điện phối hợp với Bộ Chiêu Hồi (BCH) phát hành con tem 10$ để kỷ niệm người hồi chánh thứ hai trăm ngàn (200,000).

Tem kỷ niệm người hồi chánh thứ hai trăm ngàn- H́nh trích từ tài liệu [13]
Chính sách hồi chánh :
Giúp đở tái định cư, đoàn tụ gia đ́nh, xử dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên kia chiến tuyến.
Thiếu
Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Bộ Thông
Tin Chiêu Hồi kư tên tờ Cam Kết ghi rơ như sau:
1.Đối xử đứng đắn;
2. Hưởng quyền công dân;
3. Chăm sóc thuốc men tại Trung Tâm Chiêu Hồi;
4. Đoàn tụ gia đ́nh;
5. 30$
tiền ăn cho mỗi hồi chánh viên, vợ và mỗi
con lớn. Con nhỏ 15$ mỗi ngày;
6. Hàng tháng 200$ tiền tiêu vặt. 100$ cho mỗi người
trong gia đ́nh cư trú tại TT/CH;
7. Tiền thưởng về vụ khí mang về từ
500$ đến 75,000$ ;
8. Hai bộ quần áo mới hoặc 1,000$;
9. Tiền hoàn hương cho gia đ́nh 1,000$;
10. Giúp đỡ kiếm công ăn việt làm;
11.
Những hồi chánh viên định cư trong các Ấp
Chiêu Hồi được cấp xi măng, mái và 1,000$ tiền
mặt để xây nhà, 2,000$ sắm vật dụng trong
nhà và 6 tháng gạo.
Ghi chú: Một đô la Mỹ năm 1963 bằng 35$ đồng
Việt Nam . Những năm 1970, giá khoảng 200 đồng
Việt Nam .
Tất cả cán binh cộng sản ra hồi chánh, không những thuộc thành phần tự nguyện mà kể cả thành phần cải danh, đều được chính quyền phục hồi sinh hoạt b́nh thường, cho thủ đắc đầy đủ quyền công dân, và giúp đỡ hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.
Cán binh cộng sản ra hồi chánh được đưa về trung tâm chiêu hồi. Tùy theo chức vụ và cấp bậc trong hàng ngũ cộng sản, họ được tiếp nhận ở trung tâm cấp tỉnh, cấp quân khu, hay cấp trung ương. Riêng cán binh Bắc Việt xâm nhập, tất cả đều được đưa về trung tâm chiêu hồi trung ương ở Thị Nghè.
Những nhân vật hồi chánh tiêu biểu :
Thượng
tá Tám Hà (Trần Văn Đắc), chính ủy sư
đoàn 5, hồi chánh ở B́nh Dương năm 1970. Ông
làm việc tại TC/CTCT và toà Đại sứ Mỹ. Hoa Kỳ
bốc ông sang Mỹ năm 1975.
Thượng tá Phan Văn Xướng và binh đoàn Cửu
Long hồi chánh tập thể ở Đồng Ông Cộ,
cách toà hành chánh Gia Định 3 cây số, khu vực Ngă
tư Hàng Xanh, trong cuộc tấn công đợt hai hồi
năm Mậu Thân 1968. Ngoài trung tá Xướng ra, c̣n có 2 ca
sĩ nổi tiếng là Đoàn Chính và Bùi Thiện .
Ông Phan Văn Xuớng được Bộ Chiêu Hồi bổ nhiệm vào chức tham nghị với lương bổng và phụ cấp của một giám đốc. Đoàn Chính và Bùi Thiện được tiếp tục hát ở các đài phát thanh và truyền h́nh.
Trung tá Lê Xuân Chuyên thuộc quân đội chính quy Bắc Việt, hồi chánh năm 1967 tại B́nh Tuy. Ông giúp Bộ Chiêu Hồi khai sinh các Đội Vơ Trang Tuyên Truyền, được cử giữ chức vụ ngang hàng với một Tổng giám đốc, kiêm Chỉ huy trưởng Vơ Trang Tuyên Truyền Trung Ương.
Trung tá Huỳnh Cự, hồi chánh ở Quảng Ngăi, được cử giữ chức Tham nghị, tương đương với một giám đốc, Trưởng đoán Thuyết Tŕnh Trung Ương.
Ông Bùi Công Tương, Ủ y viên Tuyên Huấn tỉnh Bến Tre,hồi chánh ở Kiến Ḥa năm 1970, ông giúp BCH hoàn thành cuốn Bạch Thư tố cáo tội ác của VC. Ông cung cấp những h́nh ảnh mà việt cộng Bến Tre đă ngụy tạo ra cảnh cán bộ cộng sản đóng vai linh mục trong thánh lễ, dàn dựng ra cảnh binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đánh đập phụ nữ, cầm đuốc đốt nhà trước vẻ mặt căm giận của một cụ già. Những h́nh ảnh ngụy tạo đó được việt cộng phổ biến và báo chí phản chiến Tây phương chụp lấy để đánh phá Việt Nam Cộng Ḥa;
Bác Sĩ Đặng văn Tân : Trưởng Ty Y Tế tỉnh Pleiku ;
Nhà văn Xuân Vũ Bùi Quang Triết : Hôi viên Hội Nhà văn Việt Nam-cộng sản;
Nhạc sĩ Phan Thế : Tác giả khúc nhạc mở đầu của đài phát thanh giải phóng (Sic);
Cao Huynh : Tài tử điện ảnh của đoàn làm phim Hà Nội;
Tô Minh Trung : Nhân viên văn pḥng Bí Thư Thành ủy Sài G̣n-Gia Định;
Mai Văn Sổ (em song sinh với Mai Văn Bộ);
Theo tài liệu [12] : Sau ngày 30-4-1975, tất cả tập thể hồi chánh viên mà việt cộng thường gọi là thành phần chiêu hồi chiêu hàng, nếu không chạy được ra nước ngoài, đều bị đưa ra toà xét xử về tội phản bội cách mạng (Sic). Một số bị kết án tử h́nh. Ngoài ra th́ bị đưa vào giam giữ ở các trại tập trung, y hệt như các nhân viên quân sự và dân sự của chính thể Việt Nam Cộng Ḥa.
Tổng Cục Trưởng qua các thời kỳ trích từ tài liệu [2]
1 Mai Hữu Xuân -Liêm Phóng Pháp-Trung Tướng-Tại chức :11/1964-12/1964 -Kiêm Phó Tổng Tư lệnh Quân lực- Giải ngũ tháng 3 năm 1965;
2 Huỳnh Văn Cao-Vơ bị Huế K2-Thiếu Tướng- Tại chức :1/1965-5/1966-Giải ngũ tháng 7 năm 1966;
3 Nguyễn Bảo Trị-Vơ khoa Nam Định- Tại chức : 6/1966-12/1966-Kiêm Phụ tá Chiến tranh Chánh trị Tổng Tham mưu trưởng. Sau cùng là Trung tướng Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn;

Thiệp chúc Tết của Tổng Cục Quân Huấn QLVNCH – H́nh trích từ tài liệu [10]
4 Trần Văn Trung-Chuẩn tướng- Tại chức : 1/1967-30/4/1975 -Kiêm Phụ tá Chiến tranh Chánh trị Tổng Tham Mưu Trưởng. Cấp bậc sau cùng là Trung Tướng.
Bộ Chỉ Huy Tổng Cục CTCT tháng 4/1975 trích từ tài liệu [2]
1; Trần Văn Trung-Vơ bị Huế K1- Trung Tướng; Tổng Cục Trưởng;
2; Văn Thành Cao-Nội ứng Nghĩa đinh Cái Vồn (Sĩ quan GP Cao Đài)-Thiếu tướng; Tổng cục phó;
3; Nguyễn Chấn Á-Vơ bị Lục quân Pháp- Cố vấn Tổng cục CTCT;
4; Nguyễn Huy Hùng-Vơ bị Huế K1- Đại tá; Phụ tá Đặc biệt Tổng cục trưởng;
5; Trần Quang Thái-Vơ bị Đà Lạt K4- Tham mưu trưởng;
6; Hoàng Đạo Thế Kiệt-Vơ khoa Nam Định- Cục trưởng Cục Chính huấn;
7; Hoàng Ngọc Tiêu-(Thi sĩ Cao Tiêu)-Vơ bị Đà lạt K4- Cục trưởng Cục Tâm lư chiến;
8; Vũ Đức Nhuận-Vơ khoa Nam Định-Chuẩn tướng-Cục trưởng Cục An ninh Quân đội;
9; Nguyễn Lễ Trí-Vơ bị Đà Lạt K6-Đại tá-Cục trưởng Cục Xă hội;
10; Nguyễn Quốc Quỳnh-Vơ bị Đà lạt K4-Chỉ huy trưởng Đại học Chiến tranh Chính trị.
Những văn nghệ sĩ có liên quan với Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị trích từ tài liệu [2]
1 Họa sĩ Tạ Tỵ ;
2 Trịnh Cung : Sĩ quan phục vụ ở Cục Tâm Lư Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ;
3 Nhạc sĩ Văn Phụng-Nhạc trưởng Đài phát thanh Quân đội VNCH;
6 Lam Phương;
7 Anh Bằng;
8 Nhật Ngân ;
9 Ca sĩ Anh Ngọc-Xướng ngôn viên Đài phát thanh Quân đội VNCH;
10 Nhà văn Văn Quang-Giám đốc Đài phát thanh Quân đội VNCH.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_c%E1%BB%A5c_Chi%E1%BA%BFn_tranh_Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B,_B%E1%BB%99_T%E1%BB%95ng_Tham_m%C6%B0u_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa .
3. https://www.nhayduwdc.org/bv/tg/2024/ndwdc_bv_tg2024_tsctctQLVNCH_2024OCT12_sat.htm Tiểu Sử Nghành Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH .
4. https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/cuu-hoc-vien-truong-quan-bao-cay-mai-hop-mat-tai-little-saigon/ Cựu học viên trường Quân Báo Cây Mai họp mặt tại Little Saigon-Lâm Hoài Thạch/Người Việt- October 8, 2019-Modified date: October 8, 2019.
5. https://vietbao.com/a299713/truong-quan-bao-quan-luc-vnch-cay-mai-hop-mat-2019Trường Quân Báo Quân Lực VNCH Cây Mai họp mặt 2019 -12/10/2019.
6. https://www.facebook.com/oldsaigon75/posts/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-chi%E1%BA%BFn-tranh-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BB%99ng-h%C3%B2a-t%E1%BA%A1i-%C4%91%C3%A0-l%E1%BA%A1t-q%C3%BAy-v%E1%BB%8B-l%C6%B0u-%C3%BD-%C4%91/2391156514266604/ Sài G̣n Xưa Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Ḥa tại Đà Lạt -2 septembre 2019 .
7. https://linhvnch.wordpress.com/truong-dhctct/ Trường ĐHCTCT (Trích Đặc San Ức Trai do Nhiệm Kỳ 1 ấn hành năm 1985 và đă được cập nhật bởi Nhiệm Kỳ 15) .
8. https://www.nhayduwdc.org/bv/tg/2024/ndwdc_bv_tg2024_tsctctQLVNCH_2024OCT12_sat.htm Tiểu Sử Nghành Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH.
9. https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/8124-ng%C3%A0nh-chi%E1%BA%BFn-tranh-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-vnch-v%C3%A0-ch%C6%B0%C6%A1ng-tr%C3%ACnh-d%E1%BA%A1-lan Trúc Giang- Ngành Chiến Tranh Chính Trị VNCH Và Chương Tŕnh Dạ Lan -01-31-2015.
10. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ-62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Posted on January 3,20025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm .
11. https://kimanhl.blogspot.com/2018/12/nha-tuyen-uy-quan-luc-vnch-tuyen-uy.html
Nha Tuyên Úy Quân Lực VNCH.
12. http://batkhuat.net/tl-chuongtrinh-chieuhoi-vnch.htm Trường Bộ Binh Thủ Đức- Khóa 8B+C/72 Bất Khuất - BS. HỒ VĂN CHÂM -chương Tŕnh Chiêu Hồi Của Việt Nam Cộng Ḥa- BS Hồ Văn Châm (Minh Vũ) .
13. https://baotreonline.com/van-hoc/tap-ghi/bai-ca-chieu-hoi.baotre Tám Vạn - Bài ca ‘’Chiêu Hồ ‘’ – June 20th,2025 .
18- Trường Quân Báo Cây Mai – Chợ Lớn, Sài G̣n
Theo tài liệu [1] : Trường Quân Báo Cây Mai được thành lập vào ngày 25 tháng 11 năm 1956, dưới sự chứng minh của ông Trần Trung Dung , Bộ Trưởng Quốc Pḥng và Trung Tướng Lê Văn Tỵ (sau được thăng cấp Thống Tướng), Ttổng Tham Mưu Trưởng quân đội, cùng các tướng lănh quân đội viễn chinh Pháp và phái đoàn thuộc Bộ Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam.
(Chú thích : Thay v́ Trường Quân Báo Cây Mai như viết trong đoạn văn ở trên, sau khi đọc tiếp các đoạn văn dưới đây, th́ đó là Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai ) .
Doanh trại của quân trường này trước kia là đồn Cây Mai nằm trong vùng Chợ Lớn, Sài G̣n, được tạo dựng từ thế kỷ 19, cũng là căn cứ cuối cùng trấn giữ của quân Pháp tại Việt Nam, nơi đây cũng đă nổ ra nhiều trận địa từng gây nhiều thương vong cho nhiều chiến sĩ Việt Nam. Trên đỉnh đồi của quân trường này có một cây mai, hoa trắng do phái bộ ngoại giao dưới thời vua Minh Mạng mang từ Trung Hoa về. Cây bạch mai này cho đến năm 1967 vẫn c̣n sống.
(Xem thêm chi tiết về đồn Cây Mai trong Phụ đề ở cuối bài).
Ông Bùi Văn Phúc trong hai tài liệu [1] & [2], kể lại như sau : ‘’ Ngày xưa, tôi là một huấn luyện viên của trường Quân Báo Cây Mai từ những năm 1965-1975. Trước đó, khi quân trường này mới thành lập được phối hợp với ngành Chiến Tranh Chính Trị, thành ra trường có chương tŕnh huấn luyện về T́nh Báo, An Ninh và Chiến Tranh Chính Trị, nên tên trường được gọi là Trường Quân Báo và Chiến Tranh Chính Trị ( c̣n có tên là Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai ) .
Nhưng sau này, Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai không c̣n huấn luyện về Chiến Tranh Chính Trị hay Tâm Lư nữa, nên từ năm 1961 Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai đổi tên thành Trường Quân Báo Cây Mai.
(Kết luận : Trường Quân Báo Cây Mai thành lập năm 1961 là hậu thân của Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai thành lập năm 1956 ).
Ngoài ra theo tài liệu [3] : Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị thành lập năm 1966 tại Đà Lạt thoát thai từ Trường Quân Báo Tâm Lư Chiến Cây Mai. (Xem thêm chi tiết trong bài Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị của cùng tác giả) .
Sau này, đơn vị 101, một cơ quan t́nh báo đặc biệt c̣n có tên Biệt Đội Sưu Tập cũng giao cho những cơ hữu của trường Cây Mai huấn luyện tại Căn Cứ 49 ở Vũng Tàu.
Để đạt được những mục tiêu trên, đơn vị 101 cũng được ra đời.
Theo ông Lưu Anh Dũng, hội trưởng Hội Ái Hữu 101 Nam California : Ngày xưa, các học viên trong đơn vị 101 học tại Căn Cứ 49 Vũng Tàu, các huấn luyện viên cũng từ quân trường Quân Báo Cây Mai đến dạy cho chúng tôi. Nhưng sau đó, tất cả nhân viên thuộc đơn vị 101 đều về học tại trường Cây Mai. Đơn vị cuối cùng của tôi là đơn vị 101 tại Cần Thơ.”
Xin bổ túc vài chi tiết về đơn vị 101 ,trích từ tài liệu [4] & [5] :
Đơn vị 101
đă được đổi tên nhiều lần như
sau:
• 1961–1963: Biệt Đội Sưu Tập;
• 1964–1965: Biệt Đoàn 300;
• 1965–1968: Liên Đoàn Yểm Trợ 924;
• 1968–1975: Đơn vị 101.
Vị Chỉ huy trưởng cuối cùng của Đơn Vị
101 là Đại tá Lê Đ́nh Luân tốt nghiệp khoá 2 (tháng 4/1953)
Trường Sĩ Quan Thủ Đức.
Tất cả các sĩ quan của đơn vị đều
phải trải qua khoá huấn luyện t́nh báo tại
Trường T́nh Báo của Lục Quân Hoa Kỳ tại
Okinawa (Nhật Bản).
Đơn Vị 101 có tổ chức hàng dọc như sau:
• Đoàn: ở cấp Vùng hay Quân Đoàn, có tất cả 5 Đoàn mang
bí số 65, 66, 67, 68, và 69 (cho Biệt Khu Thủ Đô), Chỉ
huy trưởng là một sĩ quan mang cấp bậc trung
tá.
• Toán: ở cấp Khu hay Sư Đoàn, Chỉ huy trưởng
là một sĩ quan mang cấp bậc thiếu tá.
• Lưới: ở cấp Tiểu Khu, Chỉ huy trưởng
là một sĩ quan mang cấp bậc đại uư.
Công tác thu thập tin của Đơn Vị 101 bao gồm cả
2 lănh vực: t́nh báo tác chiến và t́nh báo lănh thổ
(territorial intelligence), và phương thức thu thập chính
được sử dụng là t́nh báo nhân sự (HUMINT) qua
2 lối:
• Công khai: thu thập và khai thác tin của các Pḥng 2 và Ban 2 của
các cấp đơn vị từ Quân Đoàn xuống đến
Tiểu Đoàn, và các cấp lănh thổ từ Khu xuống
đến Chi Khu, qua việc thẩm vấn và khai thác tin từ
tù hàng binh, các tài liệu bắt được của
địch, và việc chận bắt tín hiệu truyền
tin của địch.
• Bí mật: thu thập tin của mật báo viên của các
Lưới được tổ chức cho xâm nhập vào
các vùng xôi đậu, ngay cả trong hậu phương của
địch.
Theo tài liệu [1] : Mục tiêu của công tác t́nh báo là cung cấp cho các cơ quan và cá nhân có trách nhiệm về chính trị và quân sự những thông tin cần thiết về mọi khía cạnh, đặc biệt là về ư đồ của phe địch để họ có thể kịp thời đối phó và chiến thắng đối phương. Do đó, chức năng chính yếu của công tác t́nh báo bao gồm ba lĩnh vực chính là: Thứ nhất, thu thập tin tức về địch; thứ nh́, phân tích/tổng hợp và đánh giá tin tức về địch; thứ ba, khai thác tin tức, gồm suy đoán ư đồ của địch và tiên đoán hành động của địch.
Ngoài ra, chức năng chính yếu của công tác t́nh báo cũng bao gồm luôn cả những lĩnh vực như bảo vệ an ninh, đề pḥng sự xâm nhập của địch vào trong hệ thống của ḿnh; ngụy tạo tin tức để che giấu ư đồ và đánh lừa địch.
Chỉ huy trưởng đầu tiên là cố Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Phước.
Ngoài ra,theo tài liệu [6] : Nhà Văn, Nhà Báo Niên Dư Trần Ngọc Nhuận được đưa đi nứơc ngoài học về t́nh báo và trở về làm Chỉ Huy Trưởng Trường T́nh Báo Cây Mai. Ông giải ngũ với cấp bậc Đại Tá rồi ra tranh cử và đắc cử vào Thượng Nghị Viên VNCH trong khóa Quốc Hội đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Từ năm 1961, trường Quân Báo Cây Mai, chỉ huy trưởng là Thiếu Tá Phạm Văn Sơn, bắt đầu mở những khóa huấn luyện về t́nh báo chiến trường (Field Operation Intelligence, hay FOI), t́nh báo địa phương,… do Biệt Đội Sưu Tập phối hợp tổ chức với các huấn luyện viên Hoa Kỳ, giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Việt.
Khóa 1 gồm 16 sĩ quan, khóa 2 gồm 25 sĩ quan, và các khóa kế tiếp về sau được đưa đi học tại Okinawa, Nhật Bản. Sau này, v́ nhu cầu chiến tranh, nên các sĩ quan được thụ huấn tại trường Cây Mai, và c̣n nhận thêm những khóa sinh cấp bậc hạ sĩ quan và những nhân viên thuộc những đơn vị ngành an ninh, t́nh báo tại những quân khu, tiểu khu và các quận.
Một sĩ quan Hải Quân, tác giả tài liệu [7], cũng đă theo học tại trường Quân Báo Cây Mai. Tác giả này viết : Một trung tâm đào tạo những nhân viên ṇng cốt cho CIA Việt Nam!
Sau đây là kư ức kể lại của các cựu học viên và nhân viên trường Quân Báo Cây Mai trích từ tài liệu [1] :
Ông Huỳnh Minh Mẫn, cựu học viên Khóa 33 Không Ảnh, trường Quân Báo Cây Mai, cho biết: “Ngành Không Ảnh của chúng tôi chuyên nghiên cứu những tài liệu về Không Ảnh do Không Quân chụp được rồi giao cho chúng tôi để t́m ṭi những những tang vật hay địa thế đóng quân của địch, và chúng tôi c̣n nghiên cứu nhiều tài liệu bằng h́nh bảo mật khác.”
Ông Nguyễn Hữu Của tốt nghiệp ngành Quân Báo 1969, kể: “Đơn vị đầu tiên của tôi là Sĩ Quan Quân Báo của Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Đơn vị cuối cùng của tôi là thành viên trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Hai Bên (VNCH và Cộng Sản Việt Nam).
Bà Ngân Nguyễn, cựu thư kư pḥng điều hành của trường Quân Báo Cây Mai kể: “Tôi làm việc tại trường Quân Báo Cây Mai từ năm 1972 đến năm 1975, nhiệm vụ của tôi thông thường là đánh máy chữ những hồ sơ của các khóa sinh và nhiều công việc khác nữa. Khi cộng sản chiếm miền Nam, v́ tôi không phải là quân nhân mà là công chức thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, nên tôi không bị Cộng Sản giam cầm. Tuy nhiên, tôi vẫn bị họ cho đi học sáu ngày ở trường Mạc Đĩnh Chi. Rồi sau đó, tôi bị họ nhốt tôi hết tám ngày ở trường Quốc Việt.”
Theo tài liệu [2] : Trung Tá Nguyễn Vĩnh Thiệp, Chỉ Huy Trưởng và Trung Tá Phạm Văn Dẩu Chỉ Huy Phó Trường Huấn Luyện Cây Mai.
Trung Tá Nguyễn Vĩnh Thiệp ,Đơn vị trưởng cuối cùng của trường Quân Báo Cây Mai kể lại : “Tôi làm việc tại trường Quân Báo Cây Mai từ 1970 đến 1975. V́ tôi là chỉ huy trưởng của quân trường nên tôi không thể rời khỏi quân trường khi cộng quân bắt đầu đánh chiếm Sàig̣n. Vấn đề mất nước th́ anh em chúng tôi đă biết trước cả tháng, nhưng v́ tinh thần trách nhiệm nên chúng tôi phải ở lại cho đến giờ phút cuối cùng. Cũng v́ thế, tôi bị cộng sản giam cầm tôi rất nhiều năm tại nhiều trại tù tại Bắc Việt.”
Từ ngày thành lập 25 tháng 11 năm 1956, đến ngày 20 tháng 4 năm 1975, trường Quân Báo Cây Mai đă huấn luyện và đào tạo trên dưới 100,000 học viên cho các quân, binh chủng trong Quân Lực VNCH. Nhiều học viên đă giữ những chức vụ quan trọng như Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù; Thiếu Tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh; Đề Đốc Diệp Quang Thủy, tư lệnh phó Hải Quân VNCH và c̣n nhiều người khác.
Những sĩ quan cao cấp đă bị đọa đày và chết trong trại tù Cộng Sản có Đại Tá Phạm Văn Sơn và nhiều người khác. Sĩ quan đă tuẫn tiết có Trung Tá Nguyễn Định Chi, phó Sở 3 An Ninh Quân Đội, tuẫn tiết ngày 30 Tháng Tư, 1975, tại Cục An Ninh Quân Đội Sài G̣n. Tù Cộng Sản 16 năm như các Trung Tá Nguyễn Dưỡng, Nguyễn Văn Hiếu… và hàng ngàn học viên khác đă vị quốc vong thân, làm rạng rỡ quân trường mẹ đă đào tạo.
Phụ đề : Chùa Cây Mai
Vào năm 1861, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đă biến chùa Cây Mai thành đồn Cây Mai và ba chùa khác : Chùa Kiểng Phước, đền Hiển Trung và chùa Khải Tường ,để làm pḥng tuyến đền-chùa,để tấn công Đại Đồn Chí Ḥa. (Xem thêm chi tiết trong bài Nghĩa địa ở Sàig̣n - Gia Định trước năm 1975- Băi Tha Ma Đồn Chí Ḥa của cùng tác giả).

Fort de Caimai et sa garnison - Chùa Cây Mai và quân trú pḥng Pháp năm 1866, tức 5 năm sau khi Đại Đồn Chí Ḥa thất thủ về tay Pháp-Ảnh manhhai-flickr
Chùa Cây Mai, theo tài liệu [9] , tên chữ là Thứu Lănh Tự nguyên xây cất trên một nền Chùa cổ Cao Miên xung quanh có đào ao rộng và sâu, hồi xưa mỗi năm tại đây có tổ chức lễ đưa ghe ‘’ngo’’ của người Miên tức là lễ đưa nước khi cuối mùa làm lúa và lễ rước nước đầu mùa làm ruộng.
Dưới thời vua Minh Mạng,chùa được tu bổ lại, tương truyền hai ông Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản có lập tại đây một nhà thủy tạ trên có gác cao.
Tài liệu [9] dựa vào đoạn văn dưới đây trích từ Souvenirs historiques của Trương Vĩnh Kư : ’’Chùa Cây Mai ngày xưa là ngôi chùa Chân Lạp, có ao hồ bao bọc chung quanh và dùng làm nơi đua thuyền trải những khi lễ Phật ’’ đă suy và khảo ra rằng : nước bọc chung quanh chùa Cây Mai không đủ lớn, khúc đua phải dài trên năm ba cây số, trải dài tới vùng nước Chùa G̣ (Phụng Sơn Tự) hoặc xa hơn, đường nước chùa Cây Mai ngày xưa ăn thông với con rạch trước đây gọi là rạch Ḷ Gốm (rạch này bị lấp đi một phần khi xây cất khu Chợ Lớn mới).
Theo tài liệu [10] : Chùa Cây Mai c̣n có tên là Mai Sơn tự (chùa núi Mai) hay Mai Khâu tự (chùa g̣ Mai), tọa lạc trên g̣ Mai, thuộc Gia Định xưa. Trong thời Pháp thuộc, chùa này đă bị tháo gỡ, chỉ c̣n lại g̣ Mai gần như phẳng ĺ, nằm ở góc đường Hồng Bàng bên quận 5, Chợ Lớn và Bến Dương Công Trừng- Phạm Đ́nh Hổ bên quận 6 (Bến Dương Công Trừng nối đường Trang Tử-quận 5 với đườngTrần Quốc Toản - quận 11).
Vào thời Việt Nam Cộng Ḥa, trường Quân Báo được thành lập tại địa điểm của Chùa Cây Mai.
Tài liệu [9] viết : Bấy lâu nghe đồn chùa có một gốc mai già bông trắng từng trải mấy phen biến cố. Đầu xuân năm Canh Tư (1960), thi sĩ Đông Hồ đă đến thưởng Bạch Mai tận gốc, bận về viết bài ‘’ T́m dấu Bạch Mai’’ đăng trên tạp chí Bách Khoa số 76, ngày 1 tháng 3 năm 1960.Kế đó ông Thái Văn Kiểm có đưa Vương Hồng Sển, tác giả tài liệu [9] ,đến ngắm cổ tích và viết tiếp bài ông Đông Hồ ‘’T́m dấu cây Bạch Mai’’ cũng đăng trong Bách Khoa số 78, ngày 1 tháng 4 năm 1960.
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/cuu-hoc-vien-truong-quan-bao-cay-mai-hop-mat-tai-little-saigon/ Cựu học viên trường Quân Báo Cây Mai họp mặt tại Little Saigon-Lâm Hoài Thạch/Người Việt- October 8, 2019-Modified date: October 8, 2019.
2. https://vietbao.com/a299713/truong-quan-bao-quan-luc-vnch-cay-mai-hop-mat-2019 Trường Quân Báo Quân Lực VNCH Cây Mai họp mặt 2019 -12/10/2019.
3. https://bienxua.wordpress.com/2017/03/27/so-luoc-ve-lich-su-truong-dai-hoc-ctct-cua-qlvnch/ Sơ Lược về Lịch Sử Trường Đại Học CTCT của QLVNCH- Lư Phước Hồng-Posted by bienxua on March 27, 2017.
4. https://petruskyaus.net/tinh-bao-trong-chien-tranh-viet-nam-lam-vinh-the/ T́nh Báo trong Chiến Tranh Việt Nam-Lâm Vĩnh Thế-Đơn Vị 101.
5. https://nhayduwdc.org/st/ctvn/tbvn/2025/ndwdc_st_ctvn_tbvn2025_tinhbaoCTVN_2025MAY24_sat.htm T́nh Báo trong Chiến Tranh Việt Nam-Đơn Vị 101.
6. https://hoangnamgiao.blogspot.com/2017/01/thu-oan-ba-aocua-ngo-inh-nhu-trong-vu.html Thứ Ba,10 tháng 1,2017-Thủ đoạn bá đạo của Ngô Đ́nh Nhu trong vụ phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam điều tra năm 1963-Niên Dư Trần Ngọc Nhuận-(Tựa của NG, trích từ tác phẩm Đời Quân Ngũ).
7. Nguyễn Tấn Hưng- Một Đời Để Học-Làng Văn, Gia Nă Đại-1988.
8. Bách khoa toàn thư-Chùa Cây Mai.
9. Vương Hồng Sển- Sàig̣n Năm Xưa-Sống Mới-1968.
10. Bách khoa toàn thư - Trận Đại đồn Chí Ḥa.
19- Trường Sinh Ngữ Quân Đội – Gia Định
Sau đây là lược sử thành lập Trường Sinh Ngữ Quân Đội - SNQĐ (Armed Forces Languages School-AFLS) :
Theo tài liệu [1] : Năm 1955, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cải tổ thành Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa sau khi truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại. Trong chiều hướng cải tổ đó, quân đội chuyển từ khối Liên Hiệp Pháp sang mô h́nh của Hoa Kỳ nên rất nhiều sĩ quan cần được gửi đi tu nghiệp tại Mỹ. Đó cũng là lư do h́nh thành Trường Sinh Ngữ Quân Đội - SNQĐ (Armed Forces Languages School-AFLS) .
Trường Anh Ngữ Bộ Tổng Tham Mưu (Trường Anh Ngữ Quân Đội- ANQĐ TTM ) thành lập vào ngày 18 tháng 6 năm 1956 và tổ chức lớp Anh Ngữ đầu tiên tại Bộ Tổng Tham Mưu với mục đích huấn luyện Anh Ngữ cho các quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) để chuẩn bị đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ;
Đó là lư do ngày 18 tháng 6 năm 1956 mặc nhiên trở thành ngày thành lập Trường Anh Ngữ Bộ Tổng Tham Mưu ( ANQĐ TTM), sau này lại đổi thành Trường Anh Ngữ Quân Sự, rồi Trường Anh Ngữ Quân Đội (Armed Forces English Language School - AFELS) và cuối cùng là Trường Sinh Ngữ Quân Đội- SNQĐ (Armed Forces Languages School-AFLS ).
Điều đáng tiếc là tài liệu này không có ghi năm tháng đổi tên của các Trường kể trên .
Trụ sở chính của Trường Anh Ngữ Bộ Tổng Tham Mưu ( ANQĐ TTM) và các Trường hậu thân nằm trong Bộ Tổng Tham Mưu -H́nh trích từ tài liệu [1] & [2]
Vào khoảng năm 1968 (?) , Trường Sinh Ngữ Quân Đội SNQĐ dời vào trong khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt.
Trường Sinh Ngữ Quân Đội SNQĐ c̣n có vài Chi Nhánh ở Sài g̣n, Chợ Lớn và Nha Trang.
Phù hiệu của Trường Sinh Ngữ Quân Đội SNQĐ : Quả Địa Cầu và Cuốn Sách phía trên có 6 Ngôi Sao nhỏ bao chung quanh 1 Ngôi Sao lớn . Phù hiệu này được gắn trên vai trái của bộ quân phục - H́nh trích từ tài liệu [1] & [3]
Đại Úy Phạm Hữu Khoát , Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trường Bộ Tổng Tham Mưu (ANQĐ TTM) , kể lại những ngày đầu của Trường này như sau :
Theo hệ thống quân giai, trường ANQĐ TTM trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu / Pḥng Quân Huấn, nhưng về mặt chuyên môn lại trực thuộc Trường Đại Học Quân Sự. (Xem thêm chi tiết về Trường Đại Học Quân Sự trong bài Trường Chỉ Huy và Tham Mưu ( Trường Đại Học Quân Sự ) của cùng tác giả) .
Trụ sở của Trường là hai căn nhà lợp fibro ciment, một căn dành làm văn pḥng, lớp học, pḥng ghi âm (lab) và một căn dành cho các khóa sinh nội trú.
Tổng số nhân viên kể cả giảng viên, hành chánh và tạp dịch không quá 10 người nên Trường đă gặp rất nhiều khó khăn trở ngại trong những buổi đầu v́ thiếu phương tiện và kinh nghiệm.Tuy nhiên, tất cả mọi người đều cố gắng vượt qua mọi trở ngại, và lớp Anh Ngữ đầu tiên (Khóa 1 của Trường Anh Ngữ Quân Đội (ANQĐ TTM) đă được khai giảng đúng thời hạn ấn định của Bộ Tổng Tham Mưu vào thượng tuần tháng 8 năm 1956.
Trong giai đoạn đầu, thời gian học tập của khóa sinh được dự trù là 4 tuần, chương tŕnh giảng huấn chú trọng vào việc nói và hiểu tiếng Anh. Ngoài việc học về ngữ vựng, văn phạm, các khoá sinh c̣n được thực tập trên máy ghi âm, nghe và nói theo các giảng viên người Mỹ được ghi âm tại Viện Ngữ Học Quốc Pḥng (Defense Language Institute – DLI) Hoa Kỳ. Đây cũng là nơi hỗ trợ đắc lực về chuyên môn trong việc đào tạo giảng viên người Việt dạy tiếng Anh như là một ngôn ngữ thứ hai.
Từ đầu năm 1957, Trường Anh Ngữ Quân Đội (ANQĐ TTM) có mở thêm lớp dành cho sĩ quan cao cấp chuẩn bị đi tu nghiệp tại Trường Chỉ Huy và Tham Mưu FortLeavenworth. Trong số đó có nhiều vị tướng lănh trong quân đội VNCH đă theo học qua lớp này như các Tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Minh, Lê Văn Kim, Trần Ngọc Tâm, Thái Quang Hoàng, Vĩnh Lộc, Mai Hữu Xuân, Hoàng Xuân Lăm, Lữ Lan, Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Ngọc Lễ, Dương Ngọc Lắm, Trương Quang Ân…
Một trong những giảng viên kỳ cựu của trường,là ông Nguyễn Hải B́nh hồi tưởng lại như sau : Đầu năm 1957, tṛn 22 tuổi với hàm trung úy “lấp lánh ánh vàng lon trên vai”. Phải, “lon trên vai” v́ khi tôi rời chức vụ thông dịch viên sau gần hai năm tại quân trường bộ binh Fort Benning th́ c̣n mới đeo cặp lon “hai con đỉa” của thời Liên Hiệp Pháp. Về đến Sàig̣n đáo nhậm trường mới đổi lấy hai bông mai vàng trên “ve” áo”.
Nhân số trường lúc đó vẻn vẹn chỉ có đại ca Phạm Hữu Khoát (Đại Úy Phạm Hữu Khoát Chỉ Huy Trưởng ) của Trường mang ba bông mai làm xếp, ông cố vấn dân sự Brownstein hách x́ xằng, Trung Úy đồng hóa Hà văn Anh dáng điệu play boy rất tếu và coi kỷ luật nhà binh như pha ,cộng thêm vài sĩ quan giảng viên khác.
Trường thật lèo tèo nên chi bấy giờ ông Khoát mừng lắm khi gần chục thằng chúng tôi tŕnh diện, cái chức “Chỉ Huy Trưởng” của ông rơ là có phần nặng kư hơn. Người chiều chúng tôi lắm, lũ này trẻ măng, đi Mỹ về lại nói ''ăng lê'' như Tây, cộng với Hà Văn Anh nên mọi người có vây cánh không ớn lăo Brownstein “hù” văn phạm nữa. Thật ra đại ca Khoát chiều chúng tôi cũng v́ bản tính tốt, xuề x̣a và chịu chơi.
Giữa hai tiếng kẻng 10 phút giải lao, pḥng giảng viên 15 đứa lúc nào cũng ồn ào đấu láo, kể chuyện G̣ Vấp ngay bên kia cổng hậu Tổng Tham Mưu, chuyện mặc “áo mưa”, chuyện vua Bảo Đại của Nguyễn Phước Bảo Đề… Ào ào như vậy nhưng vào lớp th́ chúng tôi được nể lắm. Thoạt đầu các khóa sinh là từ ba binh chủng [Hải, Lục, Không Quân-chú thích của Nguyễn Ngọc Chính ] bao gồm sĩ quan và hạ sĩ quan, những quân nhân được gởi đi thụ huấn tại Hoa Kỳ lần đầu”.
Vào những năm 1958-1959, ông Nguyễn Hải B́nh và vài đồng nghiệp khác được giao phụ trách mấy lớp giành riêng cho các vị tướng lănh sẽ đi tu nghiệp tham mưu chiến lược tại Hoa Kỳ.
Theo lời ông B́nh :Trong năm vị tướng lănh cầm đầu đảo chánh 1963 th́ hồi đó đă có bốn vị tôi được vinh dự phục vụ tại mấy lớp cấp tốc này. Gay lắm, hồi hộp, lo lắng chỉ sợ có ǵ sai lầm.
Trong tài liệu [4] , ông Nguyễn Hải B́nh viết : Các vị học viên của trường ANQĐ th́ đủ cả, từ hạ sĩ quan tới các Tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính, và cả tướng Khiêm dưới trào cụ Diệm.
Vào lớp giảng bài th́ một là phải hoà ḿnh để được yên thân với “khoá sinh” khi gặp những vị tếu như ông tu bíp Từ Uyên hay Dê Húc Càn Dương Hùng Cường một thời Trung Sĩ Không quân kê giảng viên với câu “Nhất tự tiên sư, Bán tự tiên sư” chứ không phải “vi sư”. Lúc khác làm thầy th́ lại phải chào kính khoá sinh là mấy ông tướng lănh. Tôi nhớ lại sáng sáng trước khi vào lớp phải nhờ đồng nghiệp nh́n hộ quần áo đă thẳng nếp chưa, giày đen đă bóng đủ soi gương chưa, biển tên đến đầu tóc mặt mày. Tới giờ, trước cửa lớp nín hơi bước vào, cứng như khúc gỗ .Đi vào lớp rập chân cái cốp, giơ tay chào kính mấy vị khóa sinh đeo sao tướng lănh trên ve áo và hô “Good morning Sir” trước khi bắt đầu “Please, repeat after me”.
(Phụ chú : Ông Nguyễn Hải B́nh sau đi du học bên Hoa Kỳ, lấy văn bằng Ph. D. -Tiến sĩ Kinh tế , trở về Việt Nam, làm giáo sư Trường Luật - đại học Sài g̣n; Năm 1970, làm Giáo Sư và Khoa trưởng Trường Đại Học Kinh Thương-Đại Học Minh Đức.Xem thêm chi tiết trong bài Các Viện Đại Học Tư Thục ở Sài g̣n trước năm 1975 của cùng tác giả) .
Được cái, Chỉ huy trưởng Phạm Hữu Khoát rất “chịu chơi”. Cuối tuần ông dắt cả bọn đi Vũng Tầu vi vút. Ông cho phép giảng viên “nhẩy dù” đi học thêm ngoài giờ giảng dậy và ứng trực. Nhờ vậy, một số giảng viên lấy thêm bằng cấp ngoài đời dân sự như cử nhân luật hoặc thêm các chứng chỉ bên văn khoa…
Theo tài liệu [5] : Có nhiều dư luận về việc thay đổi chức vụ Chỉ huy trưởng trường SNQĐ. Theo ông B́nh, có ai đó đă báo cáo rằng Chỉ Huy Trưởng Nguyễn Huy Khoát đă để giảng viên quá tự do trong việc đi học, đi chơi, lại c̣n biết giảng viên “trùm mền” đánh x́ dzách những đêm cấm trại mà lại làm ngơ ..
Thế cho nên, tháng 5 năm 1959, chức vụ Chỉ Huy Trưởng được bàn giao sang Thiếu Tá Phan Thông Tràng. Khác hẳn với Chỉ huy trưởng đầu tiên, Thiếu tá Phan Thông Tràng là một sĩ quan theo đúng tác phong nhà binh: quân phục chỉnh tề, giày đánh bóng đến độ có thể soi gương.
Ông là tuưp quân nhân gương mẫu, nhiều giảng viên dưới thời ông thậm chí c̣n b́nh luận… “trên cả gương mẫu” hoặc nặng hơn với hai chữ “bệnh hoạn” ! “Bệnh hoạn” cũng có thể v́ ông quá vệ sinh. Mỗi lần bắt tay ai là thế nào ông cũng rửa tay bằng alcohol, chai cồn luôn ở trong ngăn kéo bàn làm việc của ông !
Dưới thời Chỉ Huy Trưởng Phan Thông Tràng, chi nhánh Trường SNQĐ tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được coi là “Côn Đảo” dành cho các giảng viên mà ông không ưa.
Chi nhánh Nha Trang do Đại Úy Vũ Đức Giang làm Trưởng chi nhánh . Sau khi Đại Úy Giang về Trường th́ Trung Úy Trịnh Khoa Nghi thay thế. Lần lượt các Trưởng chi nhánh có các sĩ quan Nguyễn Long Giáp, Nguyễn Văn Minh, Văn Hùng Đốc (tạm thay anh Minh đi Lackland)”.
Chi nhánh Nha Trang được ông Đốc mô tả là “một Quốc Gia trong một Quốc Gia” v́ sĩ quan giảng viên của trường thuộc Bộ Binh, không mặc đồng phục trắng và không trực thuộc Khối Văn Hoá Vụ (Khối Quân Huấn) và Bô Tư Lệnh Hải Quân. Do đó, nẩy sinh vài chuyện không được ḥa thuận trong sinh hoạt chung .
Sau này, tôi (tác giả tài liệu [5] ) cũng có thời gian dạy tại Chi nhánh trường SNQĐ tại Khách sạn Lục Quốc (Mondial) trên đường Phan Thanh Giản, Sài G̣n, nơi đây chuyên huấn luyện Anh Ngữ cho Hải quân. Bầu không khí tại đây khác hẳn với ngoài Nha Trang v́ lư do chi nhánh hoàn toàn do Trường điều hành, không như ngoài Nha Trang, giảng viên biệt phái ra dạy.
Theo tài liệu [6] : Ngày mồng 2 Tết Mậu Thân 1968, bọn việt cộng đánh vào cổng số 4 Bộ Tổng Tham Mưu.Địch lọt vào cổng nhưng ch́ bám vào khu Trường Sinh Ngử Quân Đội không tiến sâu vào trong. Sáng ngày Mồng 3 , tổ chức phản công ,các phi cơ trực thăng thay nahu xạ kích xuống khu Trường Sinh Ngử Quân Đội. Cuộc phản công này hoàn tất vào 10 giờ sáng.
Đầu năm 1969, khi đó chức vụ Chỉ Huy Trưởng đă bàn giao từ Thiếu Tá Phan Thông Tràng sang Thiếu Tá Huỳnh Vĩnh Lại.
Vào thời điểm 1975, Thiếu Tá Huỳnh Vĩnh Lại đă được thăng chức Trung Tá và đang ở Hoa Kỳ học khóa Tham Mưu Cao cấp. Thế cho nên, Trung Tá Lại là một trường hợp hi hữu của một người Việt “tỵ nạn tại chỗ” chứ không cần vượt đại dương.
Bản tin sinh hoạt của Trường SNQĐ nhân kỷ niệm Thập tứ chu niên (14 năm tức 1970) ngày thành lập - H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [2] : Mục tiêu chính của Trường Anh Ngữ Quân Sự ( hay Trường Sinh Ngữ Quân Đội SNQĐ ? ) là huấn luyện Anh Ngữ căn bản cho các khoá sinh thuộc Mọi Binh Chủng, trong đó chủ yếu là Không Quân, bao gồm những Sinh Viên Sĩ Quan Phi Hành và Hạ Sĩ Quan hoạt động trong các lănh vực yểm trợ như radar, không ảnh, cơ khí…
Binh chủng Không Quân cũng có trung tâm huấn luyện Anh Ngữ riêng của ḿnh nhưng trước nhu cầu Việt Nam Hoá ChiếnTranh ngày càng cấp bách nên phải mở rộng các cơ sở đào tạo. Trách nhiệm đó được giao cho Trường Sinh Ngữ Quân Đội (SNQĐ) qua việc mở thêm nhiều chi nhánh đào tạo.
Ngoài trụ sở chính tại Trại Trần Hưng Đạo, Bộ Tổng Tham Mưu, dạy Anh Văn cho Sĩ Quan Binh Chủng Bộ Binh và Hạ Sĩ Quan Thông Dịch Viên, Trường c̣n có :
Ø Chi nhánh Đồng Khánh trong Chợ Lớn dành cho Hạ Sĩ Quan & Binh Sĩ Không Quân;
Ø Chi nhánh Nguyễn Văn Tráng cho Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân;
( Chi nhánh này nằm trên đường Nguyễn Văn Tráng (quận 1-Sài g̣n). Đó là một con đường nhỏ vả ngắn nối liền đường Ngô Tùng Châu với đường Lê Lai nơi Sở Hỏa Xa ) .
Ø Và chi nhánh Royal của Hải Quân.
Biến cố đau thương nhất trong lịch sử của Trường là tại Chi nhánh số 29 Đồng Khánh -Chợ Lớn : bọn khủng bố việt cộng đặt chất nổ vào chiều ngày 07 tháng 8 năm 1969 khiến 28 giảng viên, 12 học viên và hơn 60 thường dân đi ngang khu vực bị thương vong…
Vụ nổ ngày 7/8/1969 tại chi nhánh số 29 Đồng Khánh-H́nh trích từ tài liệu [2]
Chi nhánh Đồng Khánh sau khi bị đặt chất nổ - H́nh trích từ tài liệu[2]
Quan trọng hơn cả là khu Koelper Complex, tại số 8, đường Nguyễn Văn Tráng, trước đó đă từng là trụ sở một cơ quan của MACV, được chọn là địa điểm chủ yếu để đào tạo Anh Ngữ căn bản cho các học viên Không Quân phục vụ trong ngành phi hành.
Chi nhánh này c̣n có tên Nguyễn Văn Tráng được chính thức khai giảng ngày 23 tháng 12 năm 1968 với 80 pḥng học và pḥng Lab (thính thị). Các học viên học tại Chi nhánh Đồng Khánh đă được chuyển về đây sau vụ nổ.
Trường Sinh Ngữ Quân Đội (TSNQĐ) đă phải chuyển Chi nhánh Đồng Khánh về Tent City trong khu vực phi trường Tân Sơn Nhất để các khoá sinh tiếp tục việc học. Thật đáng tiếc khi chi nhánh trong Chợ Lớn chỉ mới được khai giảng hơn một năm th́ đă bị đặt chất nổ phá hoại !
Trong tháng 12 năm 1968, Trường Sinh Ngữ Quân Đội (TSNQĐ) cũng nhận thêm trách nhiệm đào tạo Anh Ngữ cho các học viên thuộc binh chủng Hải Quân tại Chi nhánh Royal. Đây là một cao ốc 8 tầng, trước đây có tên Khách sạn Hoàng Gia (Royal Hotel), nằm gần cuối đại lộ Phan Thanh Giản , Dakao.
Chi nhánh Royal chính thức bắt đầu hoạt động từ tháng 02 năm 1969. Vấn đề đáng lo ngại cũng vẫn là an ninh của địa điểm đào tạo này. Giống như Chi nhánh Đồng Khánh, Royal nằm trong khu vực dân cư nên rất dễ là mục tiêu của việc đánh bom khủng bố.
Building cao 8 tầng này nằm gần với cầu Phan Thanh Giản dẫn đến Xa lộ Biên Hoà với mật độ lưu thông tấp nập của xe cộ. Công việc canh gác chủ yếu do các khoá sinh Hải Quân tự đảm nhiệm, vào giờ tan học mới có sự tăng cường của Quân cảnh Hải quân Việt Nam.
Cơ quan Quân sự Mỹ cũng gửi thêm vài lính canh nhưng chỉ hoạt động trong phạm vi nội bộ toà nhà, trong khi các giảng viên người Mỹ thuộc Không quân hằng ngày đi dậy vẫn phải kè kè khẩu AR15 để pḥng khi có biến !
Chi nhánh Royal, đường Phan Thanh Giản-H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [7] : Trường Sinh Ngữ Quân Đội (TSNQĐ) trong khu vực phi trường Tân Sơn Nhất được gọi là “Tent City’’ v́ lúc ban đầu chỉ là những lều vải dă chiến dành cho quân nhân. Măi đến năm 1971 mới được xây dựng thành một ngôi trường khang trang .

Trường SNQĐ ở ngay bên cạnh khu sinh hoạt của các học viên Không Quân trong phi trường Tân Sơn Nhất - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]
(Chú thích : Robert Landro là chiến binh người Mỹ đă từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1970 đến 1972. Landro thuộc Không lực Hoa Kỳ, ông được biệt phái làm giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội (SNQĐ) tại căn cứ Tân Sơn Nhất ) .

Trường mới trong giai đoạn hoàn chỉnh- Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Ṭa nhà điều hành và phía sau là những lớp học đang được xây dựng. Trường gồm 3 khối lớp học khá đồ sộ - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]
Toàn cảnh của Trường SNQĐ tại Tân Sơn Nhất… ṭa nhà bên phải là các lớp học -H́nh trích từ tài liệu [2]

Ṭa nhà Trường SNQĐ- Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Trường mới bắt đầu hoạt động từ mùa hè năm 1971- Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Trường hoạt động 2 buổi, từ Thứ hai đến Thứ bảy. Buổi sáng từ 7 giờ đến trưa và buổi chiều từ 1 giờ đến 6 giờ - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Hành lang ngoài các lớp học khá rộng và các học viên đến thụ huấn Anh văn thuộc đủ mọi binh chủng - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Pḥng hành chánh của Trường - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Giảng viên Dân chính người Việt - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Pḥng lưu trữ băng ghi âm thu sẵn-Giảng viên có thể mượn băng đem về lớp để học viên nghe - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]
Một số sĩ quan cơ hữu người Việt tại Trường SNQĐ- h́nh trích từ tài liệu [2]

Huấn luyện giảng viên người Việt ngay tại trường. Họ là những sĩ quan thuộc đủ mọi binh chủng có tŕnh độ Anh Văn được tuyển về đây trong chương tŕnh “Pre-Service Training” trước khi đi học tại Hoa Kỳ - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]
H́nh chụp tại Okinawa... những giảng viên trên đường đến Hoa Kỳ học khoá English Instructor, Basic Course, 1971 – H́nh trích từ tài liệu [2]

Băi giữ xe dành cho các học viên Bộ Binh được hưởng chế độ ngoại trú - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Căng-tin dành cho học viên ở phía sau trường, phục vụ các món ḿ, phở, nước ngọt và lúc nào cũng có cà phê đá - Photo by Robert Landro trích từ tài liệu [7]

Ban văn nghệ TSNQĐ (với sự tham gia của ca sĩ Julie Quang & Hải Lư) – H́nh trích từ tài liệu [1]
Thiệp Chúc Mừng Năm Mới của Trường SNQĐ (năm không xác định) – H́nh trích từ tài liệu [2] & [8]
Năm 1971 là thời điểm Việt Nam Hóa Chiến Tranh , quân đội Mỹ từ từ rút khỏi Việt Nam Tuy nhiên, họ có chương tŕnh huấn luyện tiếng Anh căn bản cho một số quân nhân Việt Nam để những quân nhân này tiếp tục du học Hoa Kỳ về các ngành chuyên môn trong quân đội.
Các quân nhân được các đơn vị từ khắp 4 vùng chiến thuật cử về TSNQĐ. Tại đây, họ học tiếng Anh để chuẩn bị cho những chương tŕnh du học chuyên ngành tại Hoa Kỳ .
Tài liệu giảng dậy tại TSNQĐ là bộ sách American Language Course (ALC) do Viện Ngữ học Quốc pḥng Hoa Kỳ (Defense Language Institute – DLI) soạn thảo. DLI trực thuộc Bộ Quốc pḥng Hoa Kỳ, được thành lập từ năm 1963 với trụ sở chính tại Presidio, Monterey, California, ngoài ra c̣n có các chi nhánh tại Washington D.C; South Carolina (Fort Jackson) và San Antonio, Texas (Lackland Airforce Base).
Bộ sách ALC bao gồm basic course (khóa căn bản) dành cho các khóa sinh có tŕnh độ thấp nhất, họ học các tài liệu đánh số ALC 1100, 1200, 1300 và 1400. Đối với giảng viên chúng tôi, mệt nhất là phải dạy ALC 1100, tài liệu vỡ ḷng dành cho những người mới học tiếng Anh. Giảng viên trẻ chúng tôi mỗi khi được giao lớp ALC 1100 đều than là phải “đẩy xe ḅ”!
Trong môi trường quân đội, việc về Sài G̣n học tiếng Anh được coi như một đặc ân không phải đương đầu với súng đạn nên đa số học viên coi đây là một kỳ nghỉ phép dài hạn. Thời gian học tại trường chỉ mỗi ngày một buổi, phần c̣n lại trong ngày được tự do cho nên đa số khóa sinh “học th́ ít mà chơi th́ nhiều”!
Sau khi học xong khóa căn bản, khóa sinh sẽ thi ECL, nếu đủ điểm đậu sẽ tiếp tục học tài liệu thuộc trung cấp (intermediate), từ cuốn ALC 2100 đến 2200, 2300 và 2400. Thường th́ các sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc binh chủng bộ binh học xong trung cấp, khoảng 6 tháng, sẽ chuẩn bị lên đường du học Hoa Kỳ theo các ngành chuyên môn của binh chủng như truyền tin, công binh, quân cụ…
Tài liệu giảng dạy American Language Course-Intermediate Phase-Volume 2200 - H́nh trích từ tài liệu [2]
Tài liệu giảng dạy English Grammar - H́nh trích từ tài liệu [2]
Để có thể xác định được tŕnh độ ngoại ngữ của khoá sinh sau thời gian học tập, cuối khoá có những bài test được gọi là ECL (English Comprehensive Level) gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm gồm phần “written” và "oral" mà câu trả lời chỉ cần chọn a, b, c hoặc d.
Những bài thi này do Viện Ngữ học Quốc Pḥng Hoa Kỳ (Defense Language Institute) soạn thảo và được chấm bằng máy. Những người đạt được số điểm ấn định cho ngành nghề đă chọn sẽ được đưa vào danh sách những khoá sinh chờ được đi du học để tiếp tục chương tŕnh huấn luyện chuyên môn tại Hoa Kỳ.
Thường th́ những học viên chọn ngành phi hành có thể qua khỏi ECL Test một cách tương đối dễ dàng với tỷ lệ từ 65 đến 70% nhưng những khoá sinh khác như cơ khí, radar… sẽ gặp nhiều trở ngại, số người đậu chỉ chiếm khoảng 35 đến 40%. Dĩ nhiên người rớt có thể học tiếp hoặc bị Sĩ Quan Liên Lạc gửi trả về đơn vị gốc.
Khi đến Hoa Kỳ, họ tiếp tục học Specialized English (tiếng Anh chuyên ngành). Nếu là sinh viên sĩ quan Không Quân, sau khi học xong tiếng Anh căn bản tại Việt Nam họ sẽ tiếp tục học học bay tại các trung tâm huấn luyện không quân tại Mỹ, nếu là hạ sĩ quan họ sẽ học các ngành chuyên môn như bảo tŕ phi cơ, radar, không ảnh…
Trường SNQĐ cũng giảng dậy tiếng Anh cho Hải Quân, thường th́ họ có nhiệm vụ tiếp quản các tàu hải quân nhỏ của quân đội Mỹ hoặc thực tập tại Đệ thất Hạm đội. Thủy thủ là đám lính lè phè nhất trong quân đội. Mặc quần jeans ống loe, đầu đội mũ giống như Tam Tạng khi đi thỉnh kinh nên thường được gọi là… lính Tam Tạng. Tuy nhiên, sĩ quan hải quân có bộ đồ vía thật sang trọng trong các buổi lễ lạc. Họ có thể coi như thành phần ‘trí thức’ nhất trong quân đội VNCH.
Ngoài ra việc dạy tiếng Anh, Trường SNQĐ c̣n có Ban Việt Ngữ, dạy tiếng Việt cho quân đội của các nước tham chiến tại Việt Nam như Hoa Kỳ, Úc, Đại Hàn, Philipin, Thái Lan… Tuy nhiên, số khóa sinh thuộc nhóm này học tại TSNQĐ rất ít v́ mỗi nước đều có khóa dậy tiếng Việt riêng, nhiều khi họ học tiếng Việt từ trong nước của họ trước khi sang Việt Nam. Cũng v́ thế, một số giảng viên Việt Ngữ tại trường sau này được gửi đi du học tại Hoa Kỳ để về làm giảng viên tiếng Anh khi số khóa sinh tăng vọt.
Quân số Trường SNQĐ vào thời “Việt Nam hóa” chiến tranh có lúc vượt quá 200 người và có lẽ trong quân lực VNCH đây là đơn vị có số sĩ quan vượt trội so với hạ sĩ quan và binh sĩ cơ hữu. Trường Bộ Binh Thủ Đức là nguồn cung cấp giảng viên chủ lực nhưng sau này v́ nhu cầu của cuộc chiến, Trường c̣n tuyển thêm các sĩ quan trong quân đội có khả năng Anh Ngữ về Trường để giảng dậy nhiều đợt quân nhân trước khi lên đường sang Hoa Kỳ để học về chuyên môn.
Có người nói, giảng viên về trường từ Thủ Đức là “con đẻ” và những người về từ các nguồn khác chịu phận “con nuôi”. Tôi (tác giả tài liệu [5] ) không đồng ư với lư lẽ đó v́ trong suốt 7 năm phục vụ tại trường tôi không hề thấy trường hợp “kỳ thị” nào. Trong một môi trường văn hóa như tại trường SNQĐ, tŕnh độ chuyên môn là thước đo chính xác nhất để được bạn bè và đồng nghiệp tôn trọng, kính mến.
Sự tôn trọng và kính mến đó, cho đến ngày nay dù trong t́nh trạng “tan đàn xẻ nghé”, vẫn c̣n hiện hữu trong mối liên lạc đời thường giữa các giảng viên. Đó là nguồn khích lệ đối với những người đă một thời tuy khoác áo lính nhưng cầm phấn trắng thay v́ súng đạn.
Kể từ khi được thành lập cho đến tháng 4/1975 , Trường đă đào tạo Anh Văn cho một số lượng hơn 10.000 quân nhân thuộc cả ba binh chủng Hải-Lục-Không Quân. Cũng v́ thế Cơ Quan Quân Sự Hoa Kỳ đă đề nghị Văn Pḥng Tuỳ Viên Quân Sự tại Việt Nam trao tặng huy chương cho những thành tựu đă đạt được.
Tài liệu tham khảo :
1. https://dongsongcu.wordpress.com/2016/07/01/hoi-uc-ve-truong-sinh-ngu-quan-doi/ ḍng sông cũ- Nguyễn Ngọc Chính - Hồi Ức về Trường Sinh Ngữ Quân Đội - Posted on July 1, 2016 by dongsongcu .
2. https://chinhhoiuc.blogspot.com/2024/11/truong-sinh-ngu-quan-oi.html Trường Sinh ngữ Quân đội – Nguyễn Ngọc Chính- Hồi Ức Một Đời Người-4 tháng 11, 2024 .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
4. https://gocnhosantruong.com/index.php?option=com_k2&view=item&id=3779:giao-su-nguyen-hai-binh&Itemid=3 Giáo Sư: Nguyễn Hải B́nh-Tôi Làm Thầy Giáo -Viết cho: Long Xuyên, Anh Ngữ Quân Đội, Khánh Sơn, vợ chồng Châu-Lư, K. Dung, Hải-Phong-Con đường Duy Tân, Kinh Thương Minh Đức, AMT Champlain Sherbrooke .
5. https://chinhhoiuc.blogspot.com/2013/06/buon-vui-duoi-mai-truong-sinh-ngu-quan.html Nguyễn Ngọc Chính- Hồi Ức Một Đời Người- Buồn vui dưới mái trường Sinh ngữ Quân đội - 14 tháng 6, 2013 .
6. Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa của việt cộng Mậu Thân 1968-Khối Quân Sử-Pḥng 5-Bộ Tổng Tham Mưu-Tháng 8, năm 1968.
7. https://chinhhoiuc.blogspot.com/2018/11/truong-sinh-ngu-quan-oi.html Nguyễn Ngọc Chính- Hồi Ức Một Đời Người- Trường Sinh ngữ Quân đội-Thứ Sáu,30 tháng 11,2018.
8. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ-62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.
20- Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam (Việt Nam Cộng Ḥa) - Thị Xă Vũng Tàu
Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam ở Vũng Tàu tái lập bởi chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa vào năm 1956 là hậu thân của một chuổi các trường Thiếu Sinh Quân thành lập từ thời Pháp thuộc. V́ vậy để cho lược sử Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam được đầy đũ mạch lạc , lược sử thành lập tất cả các Trường Thiếu Sinh Quân tiền thân cần phải ghi lại .
Sau đây là lược sử thành lập Trường Thiếu Sinh Quân qua các thời đại trích từ tài liệu [1] :
Lư do thành lập Thiếu Sinh Quân :
Song song với việc mở trường đào tạo một lớp người bản xứ làm việc về hành chánh và thông ngôn, như thành lập trường Pháp Nam Thừa Thiên (1898), tiền thân của trường Quốc Học Huế sau này, ngày 21 tháng 11 năm 1899, Paul Doumer kư một sắc lệnh cho phép lực lượng quân sự viễn chinh Pháp thành lập tại Hà Nội và Sài G̣n các toán Thiếu Sinh Quân (TSQ), phỏng theo cách tổ chức Thiếu Sinh Quân tại Pháp.
Mục đích đào tạo một số chỉ huy người bản xứ cấp thấp, ngay từ lúc c̣n măng trẻ, để sau này trở thành những kẻ trung thành tuyệt đối với chế độ thực dân. Mục đích của họ rơ ràng là như vậy, nhưng thực tế họ có đạt được hay không, những Thiếu Sinh Quân người Việt sau này, có trở thành một thứ tay sai chỉ biết nhắm mắt phục vụ cho họ mà không nhớ ǵ đến quốc gia, dân tộc không , hay là có nhiều người, vẫn biết đau cái đau của đồng bào ḿnh trước những bóc lột hà khắc, vẫn biết nhục trước cái nhục của núi sông đang bị gót giầy ngoại xâm dày xéo, nên đă không thiếu những trường hợp vùng lên theo các phong trào chống thực dân .
A-Giai Đoạn Một (1899-1909)
Theo quyết định kư ngày 21 tháng 11 năm 1899 của Toàn Quyền Đông Dương lúc ấy là Paul Doumer, hai đơn vị Lính Tập người Việt Nam ở Hà Nội (Tonkin- Bắc Hà) và Sài G̣n được phép thành lập hai “trường” Thiếu Sinh Quân (TSQ).
Tài liệu [2] cũng viết tương tự như trên : Vào thời Pháp thuộc, triều đại Vua Thành Thái (trị v́ 1889-1907), năm 1899, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer kư nghị định ngày 21 tháng 11 năm 1899, cho hai đơn vị Quân đội Bảo Hộ Pháp tại Hà Nội và Sài G̣n được thành lập 2 Toán Thiếu Sinh Quân.
Mặt khác theo tài liệu [3] & [4] : Vua Minh Mạng năm 1899 đă chấp thuận cho Toàn Quyền Đông Dương Paul Doumer thành lập 2 nhóm Thiếu Sinh Quân (TSQ) đầu tiên, mỗi nhóm 10 người.
Theo tài liệu [1] : Gọi là Lính Tập v́ nguyên thủy, từ năm Bính Tuất 1886, nhân lúc mối liên hệ giữa hai nước Việt và Pháp có chiều ḥa dịu do Ḥa Ước Giáp Thân kư tại lầu Sứ, nhất là khi hai bên trao tặng bội tinh, phẩm vật cho nhau, lợi dụng t́nh thế thuận tiện này, triều đ́nh nhà Nguyễn đă nhờ người Pháp đứng ra tổ chức và huấn luyện cho nước ta được có riêng một đạo quân, trang bị bằng những vũ khí tối tân của thời điểm lúc bấy giờ.
Theo kế hoạch dự tính, đạo quân này sẽ gồm 6 Đại đội Bộ Binh, 2 Đại đội Kỵ Binh, 2 Đại đội Binh Nhu, 2 Pháo Đội và một trường đào tạo sĩ quan, trù liệu sẽ thiết lập ngay tại Kinh Đô Huế. Người nắm giữ toàn bộ binh quyền và đại diện cho Pháp, bên cạnh triều đ́nh khi ấy là Thiếu Tướng Prudhomme, thấy đề nghị này nếu chấp huận hoàn toàn, th́ chẳng khác nào thêm nanh, thêm vuốt cho cọp, rất nguy hiểm nên đă nại cớ tốn kém, chỉ tổ chức cho 4 Đại Đội Lính Tập nhằm phục dịch, hầu hạ cho lính Pháp mà thôi.
C̣n về chữ “trường” được dùng ở đây, thật sự là những khu vực nhỏ nằm trong các doanh trại lính bản xứ. Con số thâu tuyển của niên học đầu tiên cũng chỉ giới hạn là 10 TSQ cho mỗi đơn vị. Sang tới năm 1901, tăng lên 20 và được chia ra thành 3 bậc : sơ đẳng, trung đẳng, bậc cao nhất “Peloton” là thành phần chuẩn bị ra trường.
Theo tài liệu [2]: Nhân số Thiếu Sinh Quân vào thời kỳ đầu tiên , mỗi Toán chỉ có 10 người. Từ đó tại những nơi khác các Toán Thiếu Sinh Quân lần lượt được thành lập. Nhân số TSQ được thu nhận cũng được tăng lên từ 10 đến 20 rồi 50 cho mỗi Toán. Khi nhân số của từng nơi tăng lên thành số nhiều, các Toán được đổi thành Trường.

Các Thiếu Sinh Quân Việt Nam và Trung Sĩ Huấn Luyện Viên Pháp trong trại Lính Tập tại Hà Nôi . ( H́nh sưu tập bởi J. Castaing, CTSQ trường Billom 43-48- Revue Historique des Armées, Numéro Special) - H́nh trích từ tài liệu [1]
Theo tài liệu [1] : Quyết định này cũng do Toàn Quyền Paul Doumer kư ngày 30 tháng 12 năm 1901. Chương tŕnh học tập và huấn luyện cho các TSQ, cho đến nay, vẫn chưa có ai đề cập tới, nhưng chắc chắn nó c̣n cất trong các thư viện, văn khố Bộ Thuộc Địa Pháp trên đường Oudinot, Paris hoặc Văn khố Hải Quân (Service Historique de la Marine), Lục Quân (Service Historique de l’Armée de Terre) mà theo Cựu Thiếu Sinh Quân (CTSQ) Đoàn Văn Linh, th́ hai văn khố này nằm trong lâu đài Vincennes (Château de Vincennes).
Về vấn đề văn hóa và quân sự như thế, vậy c̣n nếp sinh hoạt cũng như quân trang, quân dụng th́ sao ? Chúng tôi (tác già tài liệu ) được biết chính xác là thời gian đó, TSQ chưa được cấp phát đồng phục của quân đội Pháp, v́ măi cho đến năm 1909 mới có ấn định của Toàn Quyền về vấn đề này.
Sáu (6) năm sau, người kế vị Paul Doumer là Toàn Quyền Paul Beau, kư cho phép thành lập “trường” TSQ Móng Cáy vào ngày 8 tháng 10 năm 1905, đồng thời cũng cho lập thêm các “trường” TSQ khác trong các đơn vị Lính Tập c̣n lại (ngoài 2 đơn vị tại Hà Nội và Sài G̣n, quân bản xứ c̣n một đơn vị Pháo Binh và hai đơn vị Lính Tập nữa) ,và bắt đầu tuyển nhận TSQ ngày 1 tháng 11 cùng năm. (Trường TSQ Móng Cáy đóng cửa vào năm 1943, đến tháng 9 năm 1947, được tái thành lập bởi Tư Lệnh vùng Hải Ninh là Đại Tá Ṿng A Sáng (CTSQ trường Núi Đèo Bắc Việt, nhập trường 1914, ra trường 1920) .
Đến giai đoạn Liên Hiệp Đông Dương (1907), Pháp thành lập các trường TSQ Đông Dương, nhưng thực tế chỉ có hai trường tại hai nước Lào và Căm Bốt, rồi qua một thời gian ngắn, cả hai trường này đều giải tán để sát nhập vào các trường tại Việt Nam (thời đó gọi là Annam).
B- Giai Đoạn Hai (1909-1956)
Chọn niên biểu 1909 làm định mốc cho giai đoạn 2, v́ thời điểm này, TSQ bước qua một khúc quanh mới, với quyết định của Toàn Qquyền Đông Dương (thay thế Paul Beau) là Klobukowski, kư ngày 17 tháng 6 năm 1909, ấn định những điều kiện nhập học trường TSQ, và cũng kể từ nay tất cả các TSQ thuộc 4 đơn vị Lính Tập và Pháo Binh thuộc địa, đều được trang bị quân phục như quân đội Pháp. Việc học hành, ăn uống cũng đi vào nề nếp theo tác phong chính quy.
Việc trông coi, dạy dỗ TSQ thời kỳ này vẫn là những Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan người Pháp, được chọn lựa kỹ càng theo tiêu chuẩn kiến thức, thông minh, kỷ luật, yêu thương trẻ em và nhiều kinh nghiệm trong quân đội, giống như những quyết định áp dụng cho TSQ tại nước Pháp. Cụ thể như quyết định của Bộ Trưởng Chiến Tranh Maréchal Niel kư ngày 7 tháng 5 năm 1868, và Báo Cáo TSQ của Đại Tá Allavène ngày 2 tháng 2 năm 1874 tại Paris, được kiến thị bởi Đại Tướng Lebrun Barthélémy và một Hội Đồng gồm Tướng Lebrun (Tư Lệnh Quân Khu 3), Tướng Isidore Garnier (Tư Lệnh Sư Đoàn 8 Bộ Binh), Thiếu Tướng Philippe René, Tướng Louis Bigault d’Avocourt, Tướng Louis Doutrelaine (Huấn Luyện), Tướng François Paturel và M. Villemereux (Tổng Giám Sát), báo cáo về điều kiện tuyển lựa, hoạch định ngân sách, ăn mặc, học hành, huấn luyện của toàn thể TSQ trong nội địa nước Pháp lúc bấy giờ.
Riêng tại Đông Dương cho tới thời điểm này, chính phủ thuộc địa vẫn chưa thiết lập trường ốc riêng biệt cho TSQ. Nghĩa là, TSQ vẫn học hành, sinh hoạt trong doanh trại của các đơn vị Lính Tập, y hệt như TSQ Pháp ở vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.
Theo như một số các niên trường sống tiếp cận với khoảng thời gian trên như CTSQ Hoàng Kim Quán (Trường Núi Đèo), CTSQ Hoàng Văn Lạc (Trường Phủ Lạng Thương) th́ TSQ thưở bấy giờ chỉ được học cao nhất là tới Cao Đẳng Tiểu Học. Khi đă học tới đó rồi nhưng chưa tới tuổi ra trường, TSQ vẫn phải ngồi đó học lại. T́nh trạng này kéo dài cho tới lúc thành lập trường TSQ Đông Dương ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu), v́ đó là chủ trương của nhà đương cuộc thực dân lúc bấy giờ.
Sau đây là ba thời kỳ của Giai Đoạn 2, trong quá tŕnh thành lập TSQ.
1.Thời kỳ thứ nhất (1909-1930)
Như đă tŕnh bày, sau khi cho TSQ ăn mặc đồng phục giống như quân đội Pháp trong tất cả 4 đơn vị Lính Tập và 1 đơn vị Pháo Binh bản xứ, đồng thời ấn định rơ ràng điều kiện, thể thức thâu tuyển rồi, người Pháp lần lượt cải tổ hoặc lập thêm các trường TSQ:
– 1911: Lập trường TSQ tại thành Ô Ma tức “Camp des Mares”. Khi Miền Nam Việt Nam được Pháp trả lại chủ quyền đất nước, lập nền Đệ Nhất Cộng Ḥa, thành Ô Ma được dùng làm Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia . (Tới năm 1947 trường TSQ tại thành Ô Ma bị giải tán để sát nhập vào trường TSQ Đông Dương tức Cap Saint Jacques tức Vũng Tàu sau này).
Sáu (6) tháng sau, ngày 23 tháng 12 năm 1911 , Tư Lệnh Tối Cao các lực lượng Đông Dương ra quyết định : Tất cả các TSQ thuộc hai đơn vị Miền Bắc (RTT) (Régiment de Tirailleurs Tonkinois ?) và Miền Trung (RTC) ((Régiment de Tirailleurs Centre ?) sát nhập làm một vào trường TSQ Núi Đèo Bắc Việt. Tới năm 1930 th́ Trường Núi Đèo Bắc Việt bị giải tán v́ một số TSQ hoạt động trong phong trào khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng- Nguyễn Thái Học. Sự việc như sau:
Theo tài liệu quân sử Pháp cũng như CTSQ Hoàng Kim Quán (Trường Núi Đèo) và CTSQ Phan Trọng Hoan (Trường Phủ Lạng Thương)… góp nhặt được từ những bậc đàn anh CTSQ lớn hơn th́ sau khi thành lập Trường Núi Đèo Bắc Việt đă có nếp sống quy củ, những người ra trường phục vụ trong những đơn vị Lính Tập sau một thời gian, đều đă lên đội, lên quản.
T́nh h́nh chính trị lúc bấy giờ tuy thực dân ở trong thế vững mạnh, nhưng ngấm ngầm vẫn có những phong trào, những tổ chức hoạt động nhằm đánh đuổi thực dân ra khỏi đất nước, chẳng hạn như cuộc kháng chiến của Hoàng Hoa Thám tại chiến khu Yên Thế và phong trào Đông Du. Một số các anh lớn tuy sống với thực dân, nhưng vẫn bí mật hoạt động và trong suốt mấy chục năm đầu, không ai bị lộ, cho đến khi Việt Nam Quốc Dân Đảng do lănh tụ Nguyễn Thái Học tổ chức cuộc khởi nghĩa vào ngày 12 tháng 2 năm 1930. Trước đó mấy hôm, các TSQ vẫn sinh hoạt b́nh thường, nhưng một số truyền đơn kêu gọi đánh đuổi thực dân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) đang bí mật được luân chuyển trong lớp “peloton” gồm các anh sắp ra trường do chi bộ đảng (VNQDĐ) Trường TSQ Núi Đèo phân phát. Cho tới lúc đó, thực dân vẫn chưa biết ǵ, măi cho đến khi cuộc khởi nghĩa bị dẹp tan, thực dân ruồng bắt, phá vỡ toàn bộ cơ cấu tổ chức của Đảng ủy VNQDĐ Hải Pḥng, mới ḷi ra manh mối có một số TSQ trường Núi Đèo dính líu vào. Lập tức, thực dân cho người vây trường lục soát và khám phá ra nhiều truyền đơn trong đó có truyền đơn kêu gọi tham gia cuộc Tổng Khởi Nghĩa ngày 12 tháng 2 (Không ai c̣n nhớ nội dung những tờ truyền đơn ấy).
Nắm được bằng chứng này, thực dân lồng lộn phản ứng, bắt giữ lập tức những TSQ can dự và đồng thời kư lệnh giải tán ngay trường TSQ Núi Đèo Bắc Việt.
– 1923: Thành lập trường TSQ Thủ Dầu Một cho con em thuộc Đệ Nhị Sư Đoàn Viễn Chinh “Régiment de Tirailleurs Annamites” (viết tắt là RTA). Trường này chỉ hoạt động đến năm 1930 th́ giải tán để sát nhập vào trường TSQ ở Bà Rịa. TSQ Lê Văn Tỵ gốc từ trường này sau trở thành Thống Tướng.
– 1930: Thành lập lần thứ nhất trường TSQ Cap Saint Jacques – Bà Rịa, giải tán năm 1945 để rồi sau này lại được tái thành lập.
2.Thời kỳ thứ hai (1931-1945)
Ngay sau khi giải tán trường Núi Đèo Bắc Việt (năm 1930), Toàn Quyền Đông Dương kư sắc lệnh thành lập trường TSQ Việt Tŕ (năm 1931), thanh lọc và dồn tất cả các TSQ không liên quan đến vụ khởi nghĩa Yên Bái lên đây. Trong số này có các TSQ trở thành CTSQ Đại Ttá Vũ Văn Thụ (Tham Mưu Trưởng Bộ Tham Mưu Bắc Việt trước hiệp định Genève 1954), CTSQ Đại Tá Phạm Văn Cảm, sau về làm Chỉ Huy Trưởng Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức thời Việt Nam Cộng Ḥa. Cũng trong quyết định kư năm 1931 này, Toàn Quyền Đông Dương cho phép nâng tổng số thu nhận các TSQ hàng năm cho các trường Việt Tŕ lên 250, và trường TSQ Phnom Penh lên 25 học sinh. Không thấy nói con số trước đó là bao nhiêu, ngoài trường Thủ Dầu Một là 50.
– 1933: Thành lập trường TSQ Phủ Lạng Thương, dùng trường này để tập họp toàn thể các TSQ con em người bản xứ, trường Việt Tŕ được sát nhập vào trường này. Trong số các CTSQ xuất thân từ trường TSQ Phủ Lạng Thương, hiện này được biết có:
* CTSQ Bùi Văn An, số quân TSQ 34;
* CTSQ Nguyễn Sĩ Túc, số quân TSQ 38;
* CTSQ Đinh Xuân Kế;
* CTSQ Nguyễn Đ́nh Ngự, số quân TSQ 78 (nay là Thượng-tọa Thích Huệ Minh);
* CTSQ Hoàng Văn Lạc sau là Phó Tư Lệnh Quân Khu 1 ;
* CTSQ Phan Trọng Hoan (đă từ trần), anh ruột của Thiếu Tướng Phan Trọng Chinh
– 1938: Ngày 27 tháng 6 năm 1938, thành lập trường TSQ Đà Lạt để tập trung các TSQ có hai gịng máu Việt-Pháp tại các trường Phủ Lạng Thương và Đáp Cầu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) và trường TSQ Cap Saint Jacques, cũng như thâu tuyển các con em thuộc lănh vực này. Sau này khi giải tán, một số trở lại trường Cap Saint Jacques (02-02-1956), một số khác chuyển sang trường TSQ Métropole (mẫu quốc) và sau cùng là trường Hạ Sĩ Quan Henri Poincaré bên Pháp.
– 1941: Thành lập trường TSQ Huế (trong đồn Mang Cá, tiền thân của trường TSQ Đệ Nhị Quân-khu), giải tán năm 1945.
Tới năm 1950 trường TSQ Huế tái thành lập, mở rộng điều kiện thâu tuyển, nhận thêm nữ TSQ, nhưng giải tán hai năm sau đó. Một trong những nữ TSQ t́m được hôm nay là Nữ CTSQ Lê thị Mỹ Thiện, định cư tại Camden, New Jersey. Thời chị Thiện vô trường th́ CTSQ Lê Cầu (anh ruột là CTSQ Lê Sóc) – sau này là Đại-tá Trung-đoàn Trưởng Trung-đoàn 47 Địa Phương (trước tháng 4-1975), lúc đó chỉ mới khoảng 8-9 tuổi, làm Trung-đội Trưởng trung đội của chị. Trường tọa lạc tại ngă tư Anh Danh trong thành nội Huế, cạnh nhà Mụ Sen, tức công chúa Mộng Hoa và Viện Dục Anh. Phía mặt tiền đối diện với trường Trần Quốc Toản. Đến năm 1956 th́ trường giải tán để sát nhập vào trường TSQ Việt Nam tại Vũng Tàu.
– 1942: Do quyết định kư ngày 13 tháng 5 năm 1942 của Toàn Quyền Đông Dương, trường TSQ Hà Nội, lúc đó được gọi “L’École d’Enfants de Troupe de la Garde Indochinoise du Tonkin” được thành lập, nhưng sau nhiều thăng trầm, phải đợi đến năm 1950 mới có cơ sở trường ốc riêng biệt. Trường hoạt động cho tới năm 1954 kư hiệp định Genève th́ di chuyển vào trường TSQ Mỹ Tho, để rồi hai năm sau đó, tất cả đều dời về Vũng Tàu sáp nhập vào trường TSQ Việt Nam.
– 1944: Thành lập trường TSQ Đáp Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh, tới tháng 3 năm 1945 th́ tan ră v́ quân đội Nhật Bản cướp chính quyền của bảo hộ trên toàn bán đảo Đông Dương. Khi Nhật Bản thua trận, người Pháp trở lại, các TSQ của trường này ra tŕnh diện và được sáp nhập vào trường Hà-nội vào năm 1946.
(1944 ? ) Thành lập trường TSQ Gia Định, cho đến ngày Đại Tướng CTSQ Pháp Sthele Joseph (vào trường TSQ Billom năm 1890 ra trường năm 1894) đến thăm viếng th́ CTSQ Trung-úy Nguyễn Hữu Có (nhập trường Đông Dương năm 1939, ra trường năm 1943) làm Chỉ Huy Trưởng. CTSQ Nguyễn Hữu Có sau này là Trung Tướng Tổng Trưởng Quốc Pḥng thời chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.
3.Thời kỳ thứ ba (1945-1956)
Năm 1945 là năm khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn thể nhân dân Việt Nam. Bọn việt minh (Sic) nổi dậy cướp chính quyền ở Hà Nội.
Nhưng chẳng bao lâu ,nh́n thấy rơ bộ mặt độc tài đảng trị khát máu của cộng sản,nhiều người dứt khoát, bỏ kháng chiến mưu t́m một đường lối tranh đấu khác, bỏ về thành phố vùng Pháp cai trị. Tuy nhiên vẫn c̣n những người biết cộng sản không phải là con đường dân tộc, nhưng vẫn nấn ná, tận t́nh với sự nghiệp đánh đuổi thực dân, dần dần v́ quyền lợi hoặc v́ những dính líu t́nh cảm, càng ngày càng lún sâu vào sự khống chế của họ, để rồi, không c̣n rút chân ra được nữa.
TSQ cũng cùng với dân tộc rơi vào t́nh huống này. Do đó, có nhiều người khi ra trường, thay v́ phục vụ cho Pháp (như mục đích của họ khi thành lập) đă bỏ đi kháng chiến.

Các TSQ việt minh tại Việt Bắc-H́nh trích từ tài liệu [1]
Chính trong thành phần CTSQ (việt minh) này, đă lập hoặc đưa ư kiến lập ra những “trường” TSQ trong các chiến khu chống Pháp. Để rồi vào cuối thập niên 40, cộng sản thu nhặt tất cả mang lên vùng Cao Bắc Lạng, lập trường TSQ Việt Bắc mà nhạc sĩ Phạm Duy lúc đi kháng chiến, đă đặt bài «Thiếu Sinh Quân», có câu đầu mà chúng tôi (tác giả tài liệu [1]) c̣n nhớ là …Đoàn Thiếu Sinh Quân, vượt đường chông gai, vượt chí lớn, không phân biệt …em Kinh hay là em Mán, Mường…
V́ vậy trong giai đoạn Hai, thời kỳ 3 (1945-1956) này, quá tŕnh thành lập TSQ tại Việt Nam tẽ ra làm hai nhánh, nằm hai giới tuyến Quốc-Cộng đối đầu.
Các trường TSQ vẫn tiếp tục được Pháp thành lập , như:
– 1946: Theo quyết định số 2725-I/O ngày 01-02-1946 và 3428-I/A ngày 16 tháng 02 năm 1946 của Đại Tướng Pháp Leclerc, ngày 22 tháng 02 năm 1946 trường TSQ Đa Kao Sài G̣n được chính thức thành lập. Thoạt tiên, trường tọa lạc gần đại lộ Norodom, nằm sát một Câu Lạc Bộ của Hải Quân, nhưng sau vụ nổ bom phá hoại ở Pyrotechnie Saigon (kho đạn Pháp) cách trường khoảng 400 mét, nên trường bị hư hại phải tu sửa lại và hoàn tất ngày 8 tháng 4 năm 1946. Đến ngày 29 tháng 4 cùng năm, Trung Úy Jean Lergenmuller về làm Chỉ Huy Trưởng, Chỉ Huy Phó là CTSQ Trung-úy Nguyễn Văn Là, sau lên Trung Tướng giải ngũ trước ngày 30-04-1975. C̣n Trung Úy Lergenmuller sau lên Đại Tá, mộ phần an táng ở tỉnh Autun, cách trường TSQ Autun khoảng 10 phút lái xe .
Tuy sự kiện thành lập trường TSQ Đa Kao với một quân số lúc đầu là 20 TSQ, chỉ là một sự kiện b́nh thường như bao nhiêu trường khác, nhưng bắt đầu từ đây, việc học hành, ăn ở, tương lai khi ra trường của các TSQ người Việt Nam mới được đặc biệt chú trọng, được nâng cao và được cụ thể bằng những quyết định hẳn hoi, để từ đó, có một tương lai mở rộng trong đời binh nghiệp, và nhất là, mới thoát khỏi cái nh́n «lính tập» dưới mắt thực dân.. Tất cả đều nhờ công lao của một người, đó là CTSQ Nguyễn Văn Là .
Về sau trường Đa Kao này được dời về Cap St-Jacques, cũng qua sự vận động của Anh Hai Là với Tướng Tư Llệnh Phó các lực lượng quân sự Pháp tại Đông Dương.
– 1954: Thành lập trường TSQ Ban Mê Thuột (Le Lac) sau này đổi thành Lạc Thiện, đồng thời dùng trường này để tiếp nhận các TSQ Móng Cáy, thuộc Sư Đoàn 3 Bộ Binh của Đại Tá Ṿng A Sáng di chuyển vào Nam theo Hiệp Định Genève, trú đóng tại Sông Mao (Phan Rang). Hai năm sau lại giải tán để sát nhập vào trường TSQ Việt Nam tại Vũng Tàu. Tới khoảng giữa thập niên 60, trường lại tái thành lập tại Pleiku và do Đại Tá Phan Như Hiên là Chỉ Huy Trưởng.
Sau đây là danh sách tóm tắc các trường TSQ thành lập bởi Pháp tại Việt Nam và hai xứ Lào và Cao Miên từ năm 1899 đến 1954 :
1. Hai đơn vị Lính Tập người Việt Nam (hai “trường” TSQ) ở Hà Nội (Tonkin- Bắc Hà) và Sàig̣n được thành lập vào ngày 21 tháng 11 năm 1899 ;
2. Trường TSQ Móng Cáy thành lập vào ngày 8 tháng 10 năm 1905 . Trường này đóng cửa vào năm 1943, đến tháng 9 năm 1947, được tái thành lập bởi Tư Lệnh vùng Hải Ninh là Đại Tá Ṿng A Sáng;
3. Năm 1907, Pháp thành lập các trường TSQ Đông Dương nhưng thực tế chỉ có hai trường tại hai nước Lào và Căm Bốt (Trường Phnom Penh), rồi qua một thời gian ngắn, cả hai trường này đều giải tán để sát nhập vào các trường tại Việt Nam (thời đó gọi là Annam) ;
4. Năm 1911: Pháp lập trường TSQ tại thành Ô Ma tức “Camp des Mares” (sau là Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia ) . Tới năm 1947 trường này bị giải tán để sát nhập vào trường TSQ Đông Dương tức Cap Saint Jacques tức Vũng Tàu sau này;
5. Ngày 23 tháng 12 năm 1911, tất cả các TSQ thuộc hai đơn vị Miền Bắc (RTT) (Régiment de Tirailleurs Tonkinois ?) và Miền Trung (RTC) ((Régiment de Tirailleurs Centre ?) sát nhập làm một vào trường TSQ Núi Đèo Bắc Việt. Tới năm 1930 th́ Trường này bị giải tán;
6. Năm 1923: Pháp thành lập trường TSQ Thủ Dầu Một .Trường này chỉ hoạt động đến năm 1930 th́ giải tán để sát nhập vào trường TSQ ở Bà Rịa ;
7. Năm 1930 : Pháp thành lập lần thứ nhất trường TSQ Cap Saint Jacques – Bà Rịa, giải tán năm 1945 để rồi sau này lại được tái thành lập;
8. Năm 1931 : Pháp thành lập trường TSQ Việt Tŕ ;
9. Năm 1933 : Pháp thành lập trường TSQ Phủ Lạng Thương. Trường Việt Tŕ được sát nhập vào trường này ;
10. Ngày 27 tháng 6 năm 1938, Pháp thành lập trường TSQ Đà Lạt . Sau này khi trường này bị giải tán, một số trở lại trường Cap Saint Jacques (02-02-1956), một số khác chuyển sang trường TSQ Métropole (mẫu quốc) và sau cùng là trường Hạ Sĩ Quan Henri Poincaré bên Pháp ;
11. Năm 1941: Pháp thành lập trường TSQ Huế (trong đồn Mang Cá, tiền thân của trường TSQ Đệ Nhị Quân Khu), trường bị giải tán năm 1945 .Tới năm 1950 trường TSQ Huế tái thành lập, mở rộng điều kiện thâu tuyển, nhận thêm nữ TSQ, nhưng giải tán hai năm sau đó;
12. Năm 1942: Trường TSQ Hà Nội, lúc đó được gọi “L’École d’Enfants de Troupe de la Garde Indochinoise du Tonkin” được thành lập, nhưng sau nhiều thăng trầm, phải đợi đến năm 1950 mới có cơ sở trường ốc riêng biệt. Trường hoạt động cho tới năm 1954 sau hiệp định Genève th́ di chuyển vào trường TSQ Mỹ Tho, để rồi hai năm sau đó, tất cả đều dời về Vũng Tàu sáp nhập vào trường TSQ Việt Nam;
13. Năm 1944: Pháp thành lập trường TSQ Đáp Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh, tới tháng 3 năm 1945 th́ tan ră . Khi Nhật Bản thua trận, người Pháp trở lại, các TSQ của trường này ra tŕnh diện và được sáp nhập vào trường Hà Nội vào năm 1946;
14. Năm 1944 ? : Pháp thành lập trường TSQ Gia Định ;
15. Ngày 22 tháng 02 năm 1946 : Pháp thành lập trường TSQ Đa Kao Sài G̣n. Về sau trường Đa Kao này được dời về Cap St-Jacques ( sau là Vũng Tàu) ;
16. Tới năm 1950 trường TSQ Huế tái thành lập, mở rộng điều kiện thâu tuyển, nhận thêm nữ TSQ, nhưng giải tán hai năm sau đó ;
17. Năm 1954 : Pháp thành lập trường TSQ Ban Mê Thuột (Le Lac) sau này đổi thành Lạc Thiện, đồng thời dùng trường này để tiếp nhận các TSQ Móng Cáy . Hai năm sau trường bị giải tán để sát nhập vào trường TSQ Việt Nam tại Vũng Tàu.

Ban Quân Nhạc trường Thiếu Sinh Quân Đông Dương (Cap St-Jacques-Vũng Tàu) đầu thập niên 1950- H́nh trích từ tài liệu [1]
C-Giai đoạn 3 (1956-1968)
Trong giai đoạn này, Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa mở hai trường sau đây :
1. Năm 1956, Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam tại Vũng Tàu. Trường này là hậu thân của Trường SQ Đông Dương tức Cap Saint Jacques tức Vũng Tàu;
2. Năm 1968 (?) : Nhằm đáp ứng thực tế, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH ra quyết định thành lập trường TSQ Pleiku. Đại Tá Phan Như Hiên làm Chỉ Huy Trưởng một thời gian, kế đó bàn giao cho CTSQ Trung Tá Lê Kư Hưng thay thế.
(Tuy nhiên như đă ghi ở trên : Năm 1954 ,Pháp thành lập trường TSQ Ban Mê Thuột (Le Lac) sau này đổi thành Lạc Thiện.Tới khoảng giữa thập niên 60, trường TSQ Ban Mê Thuột được tái thành lập tại Pleiku, vậy th́ trường này chính là TSQ Pleiku ).
Xin ghi thêm ,tài liệu [2] viết :
Ở Miền Bắc có các trường Thiếu sinh quân: Móng Cái, Núi Đèo, Đáp Cầu. Phủ Lạng Thương, Việt Tŕ, Hà Nội.
Miền Trung có trường Thiếu sinh quân Huế (Ban đầu tọa lạc ở thành Mang Cá, sau dời vào Thành nội Huế).
Miền Nam có các trường Thiếu sinh quân Đông Dương (tại Vũng Tàu), Thủ Dầu Một, Đa Kao (tại Gia Định), Thành Ô Ma (Sài G̣n), Đà Lạt, Ban Mê Thuột và Mỹ Tho.
Về phương pháp huấn luyện và điều hành của các Trường, đều rập theo khuôn mẫu của các Trường Thiếu sinh quân của Quân đội Pháp tại nước Pháp.
Vào thời điểm đầu thập niên 1950 trên toàn Việt Nam có 7 trường TSQ phân phối như sau:
(Chú thích : Tài liệu [2] không có ghi rơ lănh thổ của các Đệ Nhất Quân Khu,… Đệ Tứ Quân Khu).
Sau đây là các chi tiết về Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam :
Theo tài liệu [2] : Năm 1954, sau Hiệp Định Genève ,các trường Thiếu Sinh Quân miền Bắc được di chuyển vào Nam sáp nhập vào trường Thiếu Sinh Quân Mỹ Tho. Tuy nhiên, giai đoạn này rất căng thẳng v́ Phái Bộ Viện trợ Hoa Kỳ không có ngân khoản dự trù dành cho các trường Thiếu Sinh Quân, nên đă đề nghị với Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Cộng Ḥa cho giải tán tất cả sáu trường ở miền Nam, chỉ giữ lại trường Đông Dương ở Vũng Tàu. Nhưng vào giờ phút chót, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Trung Tướng Lê văn Tỵ quyết định duy tŕ các trường Thiếu Sinh Quân này.
Theo tài liệu [1] : Khi lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho những người Việt không cộng sản được kéo lên đỉnh cột cờ dinh Độc Lập thay thế lá cờ ba màu xanh-trắng-đỏ đă ngự trị 80 năm ở đó, th́ nền độc lập thật sự đă được trao trả lại cho đất nước ta. Cùng một lúc với những bề bộn trong công cuộc sửa sang rường mối đất nước, xếp đặt lại trật tự xă hội, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng một lúc đă chấp thuận việc thành lập một trường TSQ duy nhất, lấy tên Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam theo đề nghị của Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH: CTSQ Trung Tướng Lê văn Tỵ .
Theo tài liệu [2] : Cuối tháng 5 năm 1956, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ thị cho Tướng Lê Văn Tỵ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, tập trung sáu (6) trường hiện hữu (gồm 1.350 học viên) và di chuyển tất cả về Vũng Tàu nhập vào Trường Đông Dương. Ngày 01 tháng 6 năm 1956, Thiếu Sinh Quân hợp nhất, đồng thời chính thức với danh xưng "Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam" và trở thành một Quân Trường có tầm vóc Quốc Gia. Ngân khoản đài thọ cho trường Thiếu Sinh Quân được trích ra từ ngân khoản của quân đội.
Theo tài liệu [1] & [2] : Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam được thành lập vào năm 1956 tại thị Xă Vũng Tàu. Trường c̣n có tên Pháp là Ancient Enfant de Troupe .
Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam được trực thuộc Bộ Quốc Pḥng-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Mục tiêu của trường là đào tạo và huấn luyện cho lớp thiếu niên khi ra trường sẽ trở thành binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa hoặc trở thành những kỹ sư, bác sĩ,giáo viên,giáo sư v.v... để phục vụ trong quân đội .
Thánh Tổ Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản .
Phù Hiệu Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Ḥa -H́nh trích từ tài liệu [2] & [5]
Trên Phù hiệu có : Thanh kiếm bạc đặt trên nền màu xanh dương nước biển, đầu thanh kiếm chỉ thẳng lên ba ngôi sao sáng trên trời và dưới thanh kiếm có ba chữ Nhân, Trí, Dũng .
Ư nghĩa trên phù hiệu như sau :
-Thanh kiếm bạc: Biểu dương tinh thần thượng vơ, dũng cảm và uy quyền của người chỉ huy ;
-Nền
xanh: Nền trời màu xanh, màu trẻ trung, hy vọng và
đầy nhiệt huyết;
-Ba chữ Nhân, Trí, Dũng :
ü Nhân: Là một đạo đức lớn bao trùm trên hết các đạo làm người;
ü Trí: Là óc thông mimh biết xét đoán người và việc;
ü Dũng: Là sự can trường, đảm lược.
Tóm lại: Nhân, Trí, Dũng là sống làm sao cho đúng đạo làm người.
Theo tài liệu [1] : Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam tọa lạc tại Ngă Ba trên đường từ Sàig̣n đi Vũng Tàu, giữa giao điểm của hai ngả nếu quẹo lên hướng Bắc th́ tới thị xă Vũng Tàu, nếu quẹo xuống hướng Nam th́ tới Bến Đ́nh.
Hơn nửa theo tài liệu [6] : Trước năm 1975 muốn vào Vũng Tàu, chỉ có đường lớn (độc đạo) và thuận tiện nhất là từ Ngả Tư Giếng Nước chạy trực diện đến trước cổng trường TSQ (Quốc lộ 15), rẻ trái rồi vào trung tâm Thị Xă .
Hơn nửa theo tài liệu [3] : Cơ sở Vũng Tàu vốn là một doanh trại của quân đội Pháp xây cất để lại, c̣n gọi là thành Pháo Thủ. Trường gồm ba dăy nhà ba tầng, rộng lớn, khang trang, nằm sát chân Núi Lớn Vũng Tàu, chánh diện là Quốc Lộ 15, nối liền Vũng Tàu với Bà Rịa, Sài G̣n.

Lễ chào Quốc Kỳ tại trường TSQ một thời. Phía sau là Núi Lớn Vũng Tàu-H́nh trích từ tài liệu [3] & [7]
Theo tài liệu [3] : Thời điểm năm 1956, lúc chuyển về Vũng Tàu, được nâng lên bậc “Quân Trường”, trường có chừng 1,350 TSQ. Về sau, trung b́nh mỗi năm thu nhận khoảng 350 tân TSQ.
Thiếu Sinh Quân thường là con của giới quân nhân, không phân biệt sĩ quan, hạ sĩ quan, hay binh sĩ, cũng không nhất thiết là cô nhi tử sĩ.
Hơn nửa theo tài liệu [2] : Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam thu nhận các con em của quân nhân thuộc Chủ Lực Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Cảnh Sát Quốc gia. Đặc biệt, ưu tiên cho các con của tử sĩ, thương phế binh và cựu quân nhân. Tuổi của các em khi thu nhận là từ 12 đến 15 (trước năm 1956 nhận các em từ 10 tuổi).
Theo tài liệu [1] : Trong năm thứ nhất, 1956-1957, ước khoảng gần 2,000 TSQ kể cả tân tuyển, chia ra làm hai Tiểu Đoàn (Không giống cấp số Quân Đội) với khoảng 22 Trung Đội, mỗi Trung đội một lớp xếp theo văn hoá.

Ṭa nhà pḥng ngũ của Tiểu Đoàn - H́nh trích từ tài liệu [1]
Theo tài liệu [1] : Tháng 10 năm 1956, trong một lần xuống thăm trường, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă hướng về các TSQ Đông Dương và nói như sau : «Khi người Pháp rút đi, tôi cứ nghĩ rằng các TSQ Đông Dương sẽ theo người lính Pháp cuối cùng về Pháp. Nhưng sự thật không phải thế, tôi rất vui mừng và ngạc nhiên thấy hầu hết các em đều ở lại. Hăy phục vụ tổ quốc, các Thiếu Sinh Quân thân mến, tương lại đất nước nằm trong tay các em.»
Đào tạo và Huấn Luyện :
Văn Hóa :
Theo tài liệu [2] :
Chương tŕnh giáo dục Phổ thông, bắt đầu là hệ Trung học đệ nhất cấp: Các lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, rồi đến Trung học đệ nhị cấp: Các lớp đệ tam, đệ nhị, đệ nhất.
Học viên được thu nhận vào trường là những học sinh đă có bằng Tiểu Học.
Cuối niên học lớp đệ tứ sẽ thi lấy bằng Trung học. Tiếp đến học lên đệ nhị cấp; Cuối niên học lớp đệ nhị thi lấy bằng Tú tài phần 1, xong lớp đệ nhất thi lấy bằng Tú tài 2.
Tuy nhiên, trường cũng uyển chuyển linh động thu nhận các em ở tuổi 12 đang học lớp nhất của hệ Tiểu học, các em này học xong lớp nhất sẽ tiếp tục học lên Trung học đệ nhất cấp như những học viên khác.
Trường hợp những học viên thi không đậu Tú Tài phần 2, sẽ được gửi đi thụ huấn ở trường Vơ Khoa Thủ Đức. Tuy nhiên, khi ra trường dù cũng mang cấp bậc Chuẩn Úy như những tân sĩ quan trừ bị khác nhưng được hưởng quy chế sĩ quan hiện dịch. V́ Trường Thiếu Sinh Quân được theo quy chế đào tạo giống như các Trường Vơ Bị. Do đó, các cựu TSQ khi phục vụ trong quân đội, dù ở cấp bậc nào vẫn là một quân nhân chuyên nghiệp.
Theo tài liệu [1] :
Ba niên học đầu tiên (1956-1957-1958?), lớp cao nhất là Đệ Tứ bậc Trung Học. Sau khi thi đậu Trung Học Phổ Thông, TSQ được gửi lên trường trung học Chu Văn An hoặc Pétrus Kư Sàig̣n. Về sau thêm trường trung học ngoài thị xă Vũng Tàu, khi trường này mở thêm trung học đệ nhị cấp vào những năm 1962 hoặc 1963.Các TSQ gửi ra học, mặc thường phục có quân xa nhà trường đưa đón (tại Vũng Tàu). Riêng trên Sàig̣n th́ TSQ trọ học tại trường sĩ quan Quân Y, cư ngụ tại một dăy nhà chỉ cách khu sinh viên một sân chơi tennis. Điều kiện ăn uống của TSQ ở đây thua xa trường gốc. Nước máy thường nhiều phèn, chát đắng, không thể uống được, v́ vậy có quy chế trường (TSQ) trả tiền ăn để TSQ ăn cơm hàng hoặc về ăn với gia đ́nh . Trường Quân Y này có một Câu Lạc Bộ, các TSQ trong đó có cả các anh Mông, Toan, Dũng, Thảo, Tùng, Long, Nghiêm, Thương, Toan, Ánh, Hải và các đợt sau như Phao, Khoan, Kiệt, Cầu, Út, Mạo (Phạm Bá Mạo), Tứ (Trịnh Bá Tứ) v.v… không có tiền, thường được ghi sổ kẹo bánh, nước ngọt tưng bừng. Về sau trường mở thêm Trung-học đệ nhị cấp th́ chế độ gửi ra ngoài học không c̣n nữa.
Tương lai TSQ trong giai đoạn nước nhà yên ấm này, nhờ sự chú ư đặc biệt của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và CTSQ Trung Tướng Lê văn Tỵ, cộng thêm những chăm sóc tận t́nh của Chỉ Huy Trưởng thời đó là Thiếu Tá Phan Như Hiên, anh ruột CTSQ Phan Như Phổ (Cả hai anh em đều bỏ ḿnh trong trại tù của CS), tương lai TSQ nở rộ mười phương, tám hướng.

Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH Tướng Lê Văn Tỵ (thứ 2 từ trái) thăm trường TSQ Vũng Tàu thời Chỉ Huy Trưởng Phan Như Hiên (thứ 2 từ phải) khoảng năm 1956-1958 ? – H́nh trích từ tài liệu [3] & [7]
Theo tài liệu [3] : Niên khóa 1959-1960, người TSQ phải theo 4 chương tŕnh giáo dục, bao gồm: chương tŕnh văn hóa của Bộ Giáo Dục; chương tŕnh quân sự; chương tŕnh huấn luyện thể thao, điền kinh; và chương tŕnh chính trị, luyện tinh thần dành riêng cho TSQ. Ngoài ra, người TSQ c̣n được học các ngành riêng như quân cụ, quân nhu, truyền tin, công binh, hành chánh, tài chánh v.v… Đến năm 18 tuổi, TSQ vào quân đội với cấp bậc Hạ Sĩ Nhất. Những TSQ đỗ bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp có thể được gửi lên trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Quân sự :
Theo tài liệu [2]
Chương tŕnh rèn luyện Quân Sự áp dụng cho các học viên là chương tŕnh căn bản của người tân binh được chia làm 4 giai đoạn :
-Giai đoạn chuẩn bị : Đối với tuổi từ 12 đến 14;
-Giai đoạn 1 : Đối với tuổi từ 15;
-Giai đoạn 2 : Đối với tuổi từ 16;
-Giai đoạn 3 : Đối với tuổi từ 17 trở lên.
Các giai đoạn : Chuẩn bị, 1 và 2 : Mỗi năm các học viên phải học 128 giờ; Riêng giai đoạn 3 số giờ học sẽ tăng lên tuỳ thuộc vào các bài học quân sự được phổ cập theo từng thời điểm.
Trong phần quân sự, các học viên học tổng quát về quân phong, quân kỷ, cơ bản thao diễn, chiến thuật, vũ khí, tổng quát... tuỳ theo mỗi giai đoạn. Mục đích chuẩn bị cho các học viên có một căn bản vững vàng khi vào các trường sĩ quan hoặc hạ sĩ quan.
Trong tổ
chức Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có các quân trường:
-Trường Vơ Bị Quốc gia Đà Lạt: Huấn
luyện và đào tạo cho quân đội những sĩ
quan hiện dịch chuyên nghiệp;
-Trường
Vơ Khoa Thủ Đức: Huấn luyện và đào tạo
cho quân đội những sĩ quan trừ b;.
-Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế:
Huấn luyện và đào tạo cho quân đội những
sĩ quan, hạ sĩ quan hiện dịch và trừ bị.
Duy nhất chỉ có một quân trường đă đào tạo cho quân đội mà về sau họ đă trở thành những quân nhân ưu tú, trong đó có các hạ sĩ quan xuất sắc, các sĩ quan chỉ huy giỏi và nổi tiếng (không những là các sĩ quan cấp úy, cấp tá mà c̣n có cả các tướng lĩnh nữa). Đó là Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam.
Hơn nửa theo tài liệu [3] : Có thể nói chỉ duy nhất mái nhà Thiếu Sinh Quân là nơi xuất thân đủ Sĩ Quan lẫn Hạ Sĩ Quan, cả Hiện Dịch lẫn Trừ Bị.
Theo tài liệu [1] :TSQ được gia nhập các trường Sĩ Quan với nhiều ưu tiên. Cụ thể như năm 1960, trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam (VBQGVN) ở Đà Lạt mở khoá 17, là khóa cuối cùng trước khi nâng điều kiện thi tuyển cho những người muốn vào trường VBQGVN phải có Tú Tài 2, và khóa 13 trường Vơ Khoa Thủ Đức phải có Tú Tài 1, nhưng riêng TSQ chỉ cần có CC2 Bộ Binh (CC2 : Sergent-Chef BM2 ?) và Chứng Chỉ học hết lớp Đệ Nhị bậc trung học là hội đủ điều kiện nạp đơn thi tuyển.
Cho tới khi khóa 18 trường VBQGVN trên Đà Lạt thi tuyển sinh viên Sĩ Quan, khởi đầu cho một cuộc canh tân quan trọng trong hàng ngũ Sĩ Quan hiện dịch của QLVNCH, th́ Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng chỉ thị cho Trung Trung Tá Phan Như Hiên: TSQ có Tú Tài 2 chỉ được vào duy nhất một trường : Đó là Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam mà thôi. Một trong những CTSQ nằm trong quyết định này là CTSQ Lê Cầu, khóa 18 Vơ Bị với Phan Nhật Nam, Nguyễn Lô và nhiều Sĩ Quan lừng danh khác (trước 30 tháng 4 năm 1975, CTSQ Lê Cầu là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 47) .
C̣n trường sĩ quan Đồng Đế Nha Trang, các TSQ chỉ cần Chứng Chỉ lớp Đệ Tứ bậc trung học đệ nhất cấp và Chứng Chỉ Năng Lực Chuyên Môn Số 2 Bộ Binh là nhập học ngay.
Theo tài liệu [2] : Vào niên học 1971-1972, trường Thiếu Sinh Quân có từ lớp 5 đến lớp 12 gồm hai mươi bảy (27) lớp chia ra: Một lớp 5, ba lớp 6, bốn lớp 7, bảy lớp 8, năm lớp 9, bốn lớp 10, hai lớp 11 và một lớp 12.

Một lớp của liên lớp 11 niên khóa 1973-1974 chụp trước dăy pḥng học tại khu văn hóa của Trường Mẹ - H́nh trích từ tài liệu [8]
Theo tài liệu [2] : Trường dạy văn hóa dựa theo chương tŕnh của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa. Thành phần giáo sư gồm đa số giáo chức đă tốt nghiệp Đại Học Sư phạm phải thi hành nghĩa vụ công dân. Các giáo chức này sau khi tốt nghiệp tại trường Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức được bổ sung làm giáo sư cho trường Thiếu Sinh Quân. Vào các kỳ thi Tú tài 1 và 2, các học viên thi đậu với tỷ lệ rất cao.
Các TSQ học văn hóa phổ thông đến năm 18 tuổi nếu không thi đậu bằng Tú tài 1 th́ phải ra trường theo học các khóa hạ sĩ quan. CácTSQ thi đậu Tú tài 1 sẽ được học đến năm 20 tuổi để thi lấy bằng Tú tài 2, rồi theo học sĩ quan ở các trường Vơ Bị : Hải, Lục, Không Quân hoặc các trường Đại Học Y khoa, Luật Khoa, Khoa Học...
Vơ thuật :
Song song với chương tŕnh học văn hóa và quân sự, hàng tuần các học viên được huấn luyện TháiI Cực Đạo (Taekwondo-Vơ Đại Hàn) xen kẽ với giờ huấn luyện thể chất. Các Vơ Sư Đại Hàn đảm trách hướng dẫn từ năm 1965 đến năm 1971. Tính đến thời điểm năm 1967, đă có 20 học viên đậu huyền đai đệ nhất đẳng. Các học viên này giúp các Vơ Sư Đại Hàn trong chương tŕnh huấn luyện thường nhật.
Trường Thiếu Sinh Quân đă đào tạo được :
48 huyền đai đệ nhất đẳng;
1616 đai nâu từ cấp 4 đến cấp 1;
237 đai xanh .
Sinh hoạt :
Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam tại Vũng Tàu là một trong những Quân Trường đẹp nhất của Việt Nam Cộng ḥa. Trong khuôn viên của Trường được xây dựng với ba ngôi nhà lầu ba tầng tọa lạc trên một khu đất có diện tích rộng răi. Bao gồm các pḥng ăn, pḥng ngủ dành cho học viên thật khang trang và đầy đủ tiên nghi. Hội trường rộng lớn cùng nhiều giảng đường, pḥng học, thư viện, câu lạc bộ, nhà tiếp tân. Trong trường có nhiều băi và sân tập. Về phương diện Tôn giáo, trong trường có nhà thờ Công Giáo và Niệm Phật đường.

Các chú lính TSQ tư hon đang tập tành sống đời sương gió, mưu sinh thoát hiểm, đời quân ngũ - H́nh trích từ tài liệu [8]

Chân dung những Thiếu Sinh Quân - H́nh trích từ tài liệu [3] & [7]

Thiếu Sinh Quân diễn hành ngày Quốc Khánh - H́nh trích từ tài liệu [1]

Các chú lính tư hon Thiếu Sinh Quân VNCH trong bộ đại lễ đang diễn binh tại Thủ Đô Sài G̣n trong ngày Quân Lực 19/06 hàng năm. Bé tư mà đi cơ bản thao diễn cũng oai nghiêm, chững trạc lắm - H́nh trích từ tài liệu [8]

Đội Quốc Quân Kỳ của trường T.S.Q. đang tiến vào vũ đ́nh trường trong ngày khai giảng niên học mới. Trong những ngày lễ trọng đại, tất cả T.S.Q. đều được mặc quân phục đại lễ. - H́nh trích từ tài liệu [8]

Trong bộ quân phục đại lễ, các chú lính tí hon Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và xe hoa của đơn vị đang diễn hành ngoài đường phố của Thị Xă Vũng Tàu nhân ngày lễ Phật Đản 2517 (Dương Lịch 1973) – H́nh trích từ tài liệu [8]
Bảng dưới đây ghi tên các vị Chỉ Huy Trưởng của Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam qua các thời kỳ tử năm 1956 đến 1975 (trích từ tài liệu [2])
Họ và tên - Cấp bậc -Tại chức - Chú thích
1 -Phan Như Hiên-Vơ Bị Đà Lạt K3-Thiếu Tá -1956-1958 -Chỉ Huy Trưởng đầu tiên. Cấp bậc sau cùng: Đại Tá ;
2 -Nguyễn Văn Bích-Vơ Bị Huế K2 - Thiếu Tá -1958-1960 -Cấp bậc sau cùng: Đại Tá Cục Phó Cục Chính Huấn ;
3 -Nguyễn Luỹ-Vơ Bị Đà Lạt K5 - Thiếu Tá -1960-1963 -Giải ngũ cùng cấp;
4 -Huỳnh Văn Tư-Vơ Bị Địa Phương Cap Saint Jacques -Đại Tá -1963-1965 -Giải ngũ cùng cấp ;
5 -Nguyễn Văn Kiên-Vơ Khoa Thủ Đức -Trung Tá -1965-1967 -Giải ngũ cùng cấp ;
6 -Nguyễn Văn Ưng-Vơ Bị Địa Phương Cap Saint Jacques -Đại Tá -1967-1970 -Giải ngũ cùng cấp ;
7 -Hồ Nhựt (Nhật?) Quan (Quang?)-Vơ Bị Đà Lạt K5 Đại Tá -1971-1973 -Thuyên chuyển về Tổng Cục Quân Huấn. Ngày 1/3/1975 giải ngũ;
8 -Ngô Văn Doanh-Vơ Khoa Thủ Đức -Trung Tá -1973-1975 -Chỉ Huy Trưởng sau cùng.
(Chú thích : Trường Vơ Bị Địa Phương Cap Saint Jacques c̣n gọi là Trường Vơ Bị Địa Phương Nam Việt, tọa lạc ở Vũng Tàu).
Các vị Chỉ Huy nổi tiếng của Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam : Phan Như Hiên ,Nguyễn Văn Bích ,Huỳnh Văn Tư ,Nguyễn Văn Ưng và Hồ Nhật (Nhựt) Quang (Quan?) .
Thành quả :
Kể cả giai đoạn đầu, khi mới thành lập những Toán Thiếu Sinh Quân (1899) cho đến 1975,
Các Trường TSQ đă đào tạo và cung ứng cho Quân Đội và Quốc Gia 6.000 người con ưu tú.
Các quân nhân gốc TSQ trong chiến cuộc Việt Nam thường được cấp chỉ huy tin dùng. Một cá tánh rất đẹp khác của người TSQ VNCH là rất kỷ luật, đoàn kết, đùm bọc nhau, có thứ bậc trên dưới rơ ràng.
Dưới đây là danh sách các Sĩ Quan Việt Nam Cộng Ḥa xuất thân từ Thiếu Sinh Quân thành lập trước 1956 (trích từ tài liệu [2] ) :
Cấp tướng :
1. Lê Văn Tỵ (1904-1964): Vơ Bị Frejus, Pháp-Thống Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng;
2. Nguyễn Hữu Có (1925-2012): Vơ Bị Huế
K1- Trung Tướng- Cố Vấn Tổng Tham Mưu
Trưởng;
Nguyễn Văn Là (1918-1990): Vơ Bị
Tông Sơn Tây- Trung Tướng- Tổng Tham Mưu Phó;
3. Đào Duy Ân (1932- ): Vơ Bị Đà Lạt K4-Thiếu Tướng- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III ;
4. Trương Quang Ân (1932-1958): Vơ Bị Đà Lạt K4-Thiếu Tướng- Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh;
5. Hoàng Văn Lạc (1927-2014) : Vơ Bị Huế K2- Thiếu Tướng- Tư Lệnh Phó Lănh Thổ Quân Khu 1;
6. Nguyễn Văn Quan (1910-1969): Sĩ Quan Đặc biệt, Pháp- Giám Đốc Nha An ninh Quân Đội;
7. Đoàn Văn Quảng 1923-1982): Vơ Bị Lục Quân, Pháp- Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Quang Trung ;
8. Nguyễn Văn Vận (1905-1999)- Vơ Bị Tông Sơn Tây- Tổng Thư Kư Thường Trực Bộ Quốc Pḥng;
9. Lư Ṭng Bá (1931-2015): Vơ Bị Đà Lạt K6- Chuẩn Tướng- Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh;
(Tướng Lư Ṭng Bá là Thủ Khoa Khoá 6 Vơ Bị. Năm 1972, ông nắm quyền Tư Lịnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, người hùng của mặt trận Kontum, đă chận đứng 3 sư đoàn Bắc Việt).
10. Cấp Tá (tiêu biểu) :
11. Hồ Ngọc Cẩn (1938-1975): Sĩ quan Đặc biệt Hiện dịch Đồng Đế K2-Đại Tá- Tỉnh trưởng Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện ;
12. Đặng Phương Thành (1940-1976): Vơ Bị Đà Lạt K16- Đại Tá- Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 12 SĐ 7 Bộ Binh ;
13. Huỳnh Văn Tư : Vơ Bị Địa Phương Cap Saint Jacques- Đại Tá- Quân Trấn Trưởng Sài G̣n - Gia Định;
14. Nguyễn Văn Ưng : Cap Saint Jacques- Đại Tá- Trưởng Ban Thanh Tra Cục Quân Cụ.
Xin ghi thêm :
15. Ṿng A Sáng (19 tháng 3 năm 1902 – 2 tháng 5 năm 1975): Đại Tá- Thượng Nghị Sĩ Thượng Viện Việt Nam Cộng Ḥa ;
16. Nguyễn Ngọc Ánh : Cử Nhân Khoa Học : Đại Tá- Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng B́nh Tuy.
Từ ngày Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam (Việt Nam Cộng Ḥa) được chính thức thành lập (từ 1/6/1956 đến 30/4/1975) ,trải qua 19 năm, có thể nói là thời kỳ "cực thịnh" của Thiếu Sinh Quân VNCH.
Những cán bộ quân sự chuyên nghiệp cho quân đội có tŕnh độ văn hóa bậc Đại Học, điển h́nh như sau :
-Tốt nghiệp từ trường Vơ Bị Quốc Gia, với văn bằng Cử Nhân Khoa Học Thực nghiệm có: Cựu TSQ Đặng Phương Thành, cựu TSQ Nguyễn Ngọc Ánh và một số các huynh đệ khác cùng khóa;
-Tốt nghiệp Sư Phạm với văn bằng Đại Học Sư Phạm. Sau khi tốt nghiệp, một số cựu TSQ được điều động trở về "trường mẹ" làm giáo sư văn hóa, tiếp tục hướng dẫn và đào tạo các lớp đàn em . Các anh Nguyễn Quang Mông, Trần Thế Tùng, Đặng Văn Dũng, Đỗ Xuân Thảo, Phan Quang Thương, Nguyễn Văn Toan và c̣n nhiều nữa cũng đều là những CTSQ tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ;
-Tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa với văn bằng Cử Nhân Luật. Được Bộ Ngoại Giao tuyển dụng để trở thành những Tuỳ Viên Quân Sự cho các Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa tại các nước Đồng Minh trên thế giới;
-Tốt nghiệp Đại Học Quân Y hoặc Đại Học Y khoa với văn bằng Y khoa Bác Sĩ. Được bổ dụng phục vụ trong các Quân, Dân Y Viện hoặc điều động phục vụ ngành quân y cho các đơn tác chiến, đơn vị yểm trợ của quân đội.
Theo tài liệu : TSQ có Tú Tài 2 được miễn thi, hoặc vào Quân Y th́ miễn năm Dự Bị, mang cấp bậc Thượng Sĩ ở năm thứ nhất Quân Y ngay. Các CTSQ Hoàng Đ́nh Thái, Trịnh Hương Sơn, Trịnh Trung Sơn, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Đ́nh Tưởng v.v… đều trở thành Bác Sĩ Quân Y trong thời kỳ này.
Trước ngày 30/4/1975, c̣n có các cựu TSQ giữ chức vụ Tỉnh Trưởng, đó là cựu TSQ Hồ Ngọc Cẩn (Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện), cựu TSQ Nguyễn Ngọc Ánh (Nguyên Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng B́nh Tuy)...
Theo tài liệu [3] : Quân nhân gốc TSQ nổi tiếng can đảm gan ĺ không thích ngồi văn pḥng, chỉ muốn xông pha trận mạc, nên con số thiệt hại v́ chiến cuộc rất cao. Theo ước tính của Tổng Hội Cựu TSQ tại Hoa Kỳ, trường Thiếu Sinh Quân đă đào tạo và cung cấp cho quân đội khoảng 6,000 quân nhân, th́ đến 4,500 đă vị quốc vong thân trên chiến trường hoặc thiệt mạng trong các trại tù cộng sản thời hậu chiến.
Chỉ tính theo thời gian từ 1956 đến 1975, TSQ Việt Nam tổng cộng chừng trên 5000, khoảng 4000 đă đầu quân. Trong số 4000 người lính này, ước độ 3000 người hy sinh cho đất nước dưới ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Con số trên đây, dĩ nhiên là không chính xác tuyệt đối, v́ hoàn cảnh đất nước chưa thể làm thống kê được, nhưng chắc không sai lạc bao nhiêu.
Sau ngày 30-04-1975, cả hai trường TSQ Việt Nam, một ở Vũng Tàu và một ở Cao Nguyên (Pleiku) đều tan vỡ theo vận nước.Hầu hết CTSQ đều bị tù cải tạo dưới chế độ ngụy quyền cộng sản, người ít nhất là 3 năm và nhiều nhất trên 15 năm. Số c̣n sống kể cả chưa ra trường và các thương binh CTSQ ước khoảng 1500 người, đa số hiện đang định cư tại các nước Tây phương, nhiều nhất là tại Hoa Kỳ.
Theo tài liệu [3] & [4] :
Nhiều quân nhân từng theo học trường TSQ Việt Nam cũng ghi lại tên ḿnh trong những giờ phút chung cuộc của miền Nam tự do ngày 30-4-1975.
Giữa lúc hầu hết các đơn vị quân đội VNCH đều đă buông súng, những người TSQ vẫn ngoan cường kháng cự : Trên sông Vàm Cỏ Tây ,tại ngay sân trường TSQ Vũng Tàu và tại Tỉnh Lỵ Chương Thiện .
1-Trên sông Vàm Cỏ Tây (tài liệu [3] & [4]) :
Ngày 16 tháng 4 năm 1975, tại ngă ba sông Vàm Cỏ Tây, địa phận tỉnh Long An. Đại Tá Đặng Phương Thành gốc Thiếu Sinh Quân, tốt nghiệp Khóa 16 Vơ Bị Quốc Gia, lúc đó chỉ huy Trung Đoàn 12 thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đơn vị của ông đă phối hợp với Giang Đoàn Đặc Nhiệm 99 dưới quyền Phó Đề Đốc Chung Tấn Cang với gần 100 giang đỉnh. Lực lượng thủy bộ hợp cùng nhau nghênh chiến với “Công Trường 5” của cộng quân, làm vỡ kế hoạch vượt sông Vàm Cỏ của giặc. Về sau, cũng với khí chất quật cường đó, cựu TSQ Đặng Phương Thành đă chết mất xác trong ngục tù ngụy quyền cộng sản.
2-Tại ngay sân trường TSQ Vũng Tàu (tài liệu [3] & [4]) :
Vào lúc Thị Xă Vũng Tàu hoàn toàn bỏ ngỏ, cộng quân đă xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu, chỉ c̣n một cứ điểm duy nhất chống cự suốt đêm 29 và gần trọn ngày 30-4 : Tại trường TSQ, hằng trăm tay súng tuổi thiếu niên đă tự lập pḥng tuyến quyết tử thủ.
Cộng quân tung hai tiểu đoàn xung kích vào trận. Các TSQ được huấn luyện bài bản, có hỏa lực, có đủ vơ khí cá nhân và vơ khí cộng đồng, đă kháng cự mănh liệt. Họ tác chiến ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu, thoắt ẩn thoắt hiện, hạ sát 6 giặc cộng và làm nhiều tên khác thương tích.
Đến chiều 30-4, khi đạn dược đă cạn và kho lương thực đă cháy,các anh hùng tuổi trẻ này đành thương thuyết với địch quân bao vây, nhận lấy một giờ ngưng bắn. Các TSQ tí hon vẫn b́nh tĩnh thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài người hy sinh, rồi đường hoàng làm lễ hạ Quốc Kỳ, hát Quốc Ca của quê hương Việt Nam tự do một lần cuối cùng.

Cổng trường TSQ Vũng Tàu, nơi 6 tên giặc cộng đă bỏ mạng trong giờ phút sau cùng của chiến cuộc VN – H́nh trích từ tài liệu [3]
Xin ghi thêm hai tài liệu [6] & [9] viết bởi các CTSQ trực tiếp tham dự vào trận chiến chận đánh cộng quạn trong sân Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Qua đây người ta thầy rơ các chi tiết qua từng giờ, từng ngày , các Thiếu Sinh Quân tuy c̣n non trẻ, chưa bao giờ thật sự đánh trận, hoàn toàn đơn độc sau khi những người chỉ huy trường đă bỏ chạy , nhưng với ḷng can đảm anh hùng , nương tựa lẫn nhau , cùng nhau đứng lên cầm súng bắn vào đầu giặc cộng nơi sân trường cho tới lúc không c̣n đạn dược mới chịu hạ súng.
Trích từ tài liệu [9] :
Đầu tháng Tư 1975, mặc dầu bị Sư Đoàn 18 Bộ Binh của tướng Lê Minh Đảo cầm chân quyết liệt tại Long Khánh suốt 12 ngày đêm, Bắc quân cộng sản lại tiếp tục tràn về ven biên ngoại ôSài g̣n .
Quân ta cứ rút, cứ rút.
Vũng Tàu, những ngày cuối tháng tư năm 1975, một trong những phần thân thể c̣n lại của Tổ Quốc, cũng đang lên cơn sốt hốt hoảng và náo động. Ḍng người di tản, cả lính lẫn dân, đổ về Vũng Tàu từ cả hai mặt, đường bộ cũng như đường biển. Vũng Tàu chênh vênh bên bờ nước, tuyệt vọng, cùng đường.
Ngày 26 tháng
4, Bắc quân cộng sản tấn chiếm Biên Hoà, Bà Rịa,
sau đó, cầu Cỏ May nối liền Bà Rịa và
Vũng Tàu bị giật sập. Vũng Tàu co ro trong thế cô lập,
chờ chết.
Trường Thiếu Sinh Quân, mặc dù toạ lạc ngay
cửa ngơ của thị trấn, nhưng bị ngăn
cách bởi những vách tường đá kiên cố bao
quanh, những giao động âu lo, tuyệt vọng từ
một Vũng Tàu hỗn loạn đă không lọt
được vào trường. Các Thiếu Sinh Quân vẫn
sinh hoạt đều đặn như mọi ngày. Thiếu
Sinh Quân liên lớp 12 (lớp người viết),
đang trong thời gian học thi tốt nghiệp, vẫn
cắm cúi miệt mài với bài vở.
Trong thời
gian này, phần lớn các Thiếu Sinh Quân lớp nhỏ
cư ngụ ở các vùng Sài G̣n, các tỉnh Vùng 3 và Vùng 4
đă được nhà trường cho về với gia
đ́nh. Các Thiếu Sinh Quân ở Vùng 1 và Vùng 2 phải ở
lại trường do t́nh h́nh chiến sự rối ren hay
đă mất vào tay cộng sản. Không khí nhà trường
v́ thế càng tăng vẻ yên tĩnh, nặng nề. Cái nặng
nề và yên tĩnh đó trở nên ngột ngạt và
căng thẳng dần khi chúng tôi nhận ra những nét lo
âu, bức xúc trên gương mặt của các cán bộ,
nhân viên cơ hữu của trường.
Ngày 28 tháng 4, chúng tôi được lệnh tập họp
sau bữa ăn chiều. Trung Tá Ngô Văn Dzoanh, Chỉ Huy
Trưởng, thông báo t́nh h́nh khẩn cấp, ban hành lệnh
giới nghiêm và tuyên bố :
‘’ Các em không
có ǵ phải rối loạn, lo âu. Nhà trường đă có
kế hoạch di tản’’.
Mặc dù c̣n trẻ, nhưng chúng tôi đă cảm thức
cái nguy cơ, cái bất thường, tuyệt vọng của
t́nh h́nh đất nước trong những ngày qua, nên dù
đă được chỉ huy trưởng trấn an,
chúng tôi cũng đă phải trải qua một đêm mất
ngủ. Tổ quốc, tương lai, gia đ́nh, bè bạn
và ngôi trường thân yêu này ngày mai sẽ ra sao? Chúng tôi trằn
trọc đến sáng, khi mặt trời lên, trên
gương mặt của đám Thiếu Sinh Quân chúng tôi,
ai cũng hiện lên những nét lo âu, sợ sệt của
đám gà con đang bối rối chui rúc dưới lông
cánh gà mẹ trong lúc diều hâu đang lờ lững trên
ṿm trời .
Khung trời rộng dường như nhỏ dần lại trên khoảng không gian trường Thiếu Sinh Quân sáng ngày 29 tháng Tư, cùng lúc những lo âu của anh em lại trương lớn dần và căng thẳng thêm. Bỗng chợt âm thanh của đạn trọng pháo từ đâu xé gió rít qua không gian… và Ầm! Ầm! Tiếng nổ ù tai của những viên đạn rớt vào chân núi đài viba ngay đằng sau lưng trường.
Đại
Úy Lê Viết Đắc, cán bộ tiểu đoàn trưởng
Tiểu Đoàn Hùng Vương, liên lớp 12, rút súng ra khỏi
vỏ, chạy ngược xuôi ra lệnh cho các Thiếu
Sinh Quân nằm sát xuống đất để tránh miểng
đạn. Trong bối cảnh của tiếng những mảnh
đất đá rơi xào xạc trộn lẫn âm thanh
vang dội của đạn trọng pháo, ông như một
con gà mẹ đang dáo dác bảo vệ đàn con. Không biết
mục tiêu của những viên trọng pháo đó là ai, là
trường Thiếu Sinh Quân hay là đơn vị đồn
trú tại Đài Viba gần trường, nhưng âm thanh của
tiếng đạn nổ và cảnh núp đạn lần
đầu tiên kể từ ngày vào trường đă gieo
cho những đầu óc c̣n non nớt chỉ biết
ăn, học và chơi của chúng tôi cái cảm giác kỳ
lạ, hoang mang, lo sợ về sự sống và sự chết.
Chúng tôi vẫn nằm yên. Địch pháo thêm vài đợt,
đạn rơi bên ngoài trường, sau đó rồi im.
T́nh h́nh yên tĩnh trở lại .
Khoảng 11
giờ trưa, trong cái cảm giác hụt hẫng, hoang mang,
toàn trường như bất động lắng nghe tiếng
Đại Úy Hoàng, cán bộ liên đoàn trưởng, thông
báo qua loa phóng thanh:
“Toàn trường chuẩn bị di tản! Các thiếu sinh
quân cấp trưởng trang bị vũ khí và nhận nhiệm
vụ hướng dẫn và bảo vệ đoàn quân. Tập
họp kiểm điểm quân số! Chuẩn bị lên
đường khi có lệnh “.
Thế là hết ! Cơn băo lịch sử sắp tràn qua ngôi trường thân yêu đầy những kỷ niệm của tuổi thơ. Lệnh ra được tuân theo răm rắp. Khoảng xế một giờ trưa, toàn thể Thiếu Sinh Quân bắt đầu di chuyển khỏi nhà trường cùng với tất cả cán bộ, nhân viên. Đoàn di tản bắt đầu rời trường theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Là Thiếu Sinh Quân tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Hùng Vương, liên lớp 12, tôi đi hàng đầu cùng các em nhỏ. Đội ngũ Thiếu Sinh Quân lặng lẽ di chuyển dưới ánh nắng Vũng Tàu chói chang. Đa số anh em là những đứa trẻ mất cha, mất mẹ trong chiến tranh, ngôi trường Mẹ Thiếu Sinh Quân trở thành tổ ấm đầu đời và tương lai, nay phải đoạn ĺa, phải ra đi, những trái tim non đă bước đi những bước bùi ngùi vương vấn. Đi về đâu ? Với ai?.
Thông báo toàn
trường sẽ được di tản bằng tàu
không là câu trả lời trọn nghĩa cho những ư
nghĩ mênh mang trong đầu những đứa trẻ
chưa thành người lính. Đi được nửa
đường th́ đột nhiên chúng tôi bị một số
binh sĩ Thuỷ Quân Lục Chiến chặn lại. Trung
tá Dzoanh đến tiếp chuyện với người chỉ
huy toán lính. Chúng tôi không rơ nội dung cuộc nói chuyện,
song thấy không khí và sắc mặt của cả hai bên
đều lộ vẻ căng thẳng. Qua tiếng
được, tiếng mất, chúng tôi đoán Thuỷ
Quân Lục Chiến đă chiếm giữ bến cảng
để họ di tản. Họ buộc chúng tôi phải
quay trở lại trường. Cuối cùng, lệnh quay về
trường được ban xuống.
Trên đường về, tâm hồn của tất cả
mọi người đều trĩu nặng. Bắc quân
càng lúc càng sát nách, đường thoát bị tắt nghẽn,
sinh lộ càng lúc càng hẹp dần. Không ai bảo ai, tất
cả mọi người đều thấy cái cơ may
được di tản thật là mong manh
Về đến trường, chúng tôi được tập
trung ở sân banh. Chỉ huy trưởng thông báo là kế
hoạch di tản được thay đổi. Theo kế
hoạch này, chúng tôi sẽ được bốc tại
trường bằng trực thăng để đưa
ra Hạm Đôi 7 ở ngoài khơi Vũng Tàu. Thời gian
như chậm lại trong giây phút chờ đợi nặng
nề. Cả đám chúng tôi cùng bật dậy như những
chiếc ḷ so khi thấy một chiếc trực thăng
đáp xuống sân trường. Niềm hy vọng lại
nhen nhúm bốc lên cùng đám bụi mù tung cao theo cánh quạt.
Hành khách của chuyến không vận đầu tiên này gồm
một cố vấn Mỹ mặc thường phục,
Trung Sĩ 1 Ngộ, cán bộ trường, và 7 em Thiếu
Sinh Quân thuộc Tiểu Đoàn Quang Trung, là liên lớp nhỏ
nhất của trường.
Chuyến bay cất cánh rời khỏi vận động
trường. Chúng tôi thẫn thờ t́m chỗ ngồi chờ
đợi. Thời gian ngóng đợi kéo dài khoảng một
tiếng đồng hồ mà chúng tôi có cảm tưởng
như là một thế kỷ. Anh em nh́n lên bầu trời
xanh chờ bóng dáng của chiếc trực thăng, chờ
âm thanh của những cánh quạt. Chiếc trực
thăng cứu tinh ngày càng biền biệt tăm hơi khi
buổi chiều càng lúc càng ngả bóng dần trên sân trường.
Nh́n lên cột cờ, lá cờ vàng ba sọc đỏ của
Tổ Quốc vẫn c̣n tung bay. Nh́n xuống sân trường,
đoạn trường, ngao ngán.
Khoảng 6 giờ chiều, chúng tôi sững sờ nh́n
chiếc xe chở Trung Tá Chỉ Huy Trưởng lăn bánh
vội vàng rời khỏi cổng trường. Trái tim nghẹn
đắng một nỗi uất ức kèm theo một nỗi
chới với hoảng hốt của một đứa
bé lạc mẹ giữa buổi chợ đông nghẹt những
người. Loa phóng thanh một lần nữa xác định
một thực tế phũ phàng:
- Kể từ giờ phút này, chúng tôi không c̣n trách nhiệm với
các em nữa, các em hăy tự lo lấy bản thân.
Thế là quá rơ. Chúng tôi đă bị bỏ rơi. Ngôi trường này là nhà. Các cán bộ là người thân. Giờ đây chúng tôi biết phải làm ǵ, biết đi về đâu. Thế là như một bầy ong vỡ tổ, chúng tôi tung ra tản mát chạy khỏi trường. Chạy đi đâu? Chẳng biết ! Tại sao chạy? Chẳng hiểu! Thấy bạn bè chạy th́ ḿnh cũng chạy. Thế thôi.
Tôi và Nguyễn Lương Thịnh, biệt hiệu Thịnh nhóc (hiện ở tại Việt Nam), cùng chạy chung. Tay cầm súng, tay gạt các nhánh sậy che phủ con đường ṃn sau núi, chúng tôi chạy hộc tốc như bị cọp đuổi sau lưng. Chúng tôi ra tới Băi Trước và nhận ra t́nh trạng náo loạn ngoài đường phố, tiếng đạn nổ tứ tung, dân chúng ai cũng đóng chặt cửa, trốn trong nhà. Thật không khác một đám loạn kiêu binh.
Tôi thấy ở
phía trước mặt, cách chỗ tôi đứng khoảng
200 thước, một Thiếu Sinh Quân cũng cầm súng
như tôi bị một người lính, không biết là ta
hay địch giả dạng, hành hung và giật lấy khẩu
súng của em. Tôi không hiểu v́ sao. Hoảng hốt tôi và Thịnh
vội vàng vất súng và quay ngược chạy trở về
trường. Trong phút giây này, có lẽ chỉ có trường
tạm thời c̣n là tổ ấm dung thân. Mệt và khô cổ
đến đắng họng. Chẳng hiểu sao chúng tôi
lại có thể chạy liên tục từ trường ra
băi trước và từ băi trước trở về
trường như vậy.
Về đến gần trường, tôi chợt nhớ
ra gia đ́nh người bạn cùng liên lớp là Tô Trích
Long Vân. Cha của Vân là Thiếu Úy Tô Trích Mầu, một cán
bộ của trường. Gia đ́nh của Vần nằm
trong khu gia binh gần trường. Thế là chúng tôi chạy
đến gơ cửa xin tạm náu.
Bố mẹ Vần dọn cơm cho chúng tôi ăn. Mẹ Vần nh́n Thịnh và tôi đang ngấu nghiến ngồi ăn với ánh mắt xót thương, tŕu mến. Tôi không bao giờ quên được ánh mắt của bà. Có lẽ bà đang nghĩ tội nghiệp cho hai đứa chúng tôi.
Là những bạn học cùng lớp, Vần c̣n có gia đ́nh ruột thịt ở bên cạnh, hai đứa chúng tôi th́ tứ cố vô thân, không biết sẽ trôi dạt về đâu trong cơn biến loạn. Xong bữa cơm, nh́n ra ngoài trờI, đêm đen đă trùm kín không gian tự lúc nào. Căn nhà như thu ḿnh trong nỗI lo âu. Mọi người cứ ngồi nh́n nhau chẳng ai nói một lời .
Trong lúc mọi người đang ch́m đắm trong những suy tư riêng, tôi bỗng nghe tiếng loa phóng thanh từ trong Trường vọng lại :
‘’Các anh Thiếu Sinh Quân
lớp lớn xin trở về trường! Chúng em cần
các anh lắm’’.
Tiếng gọi của em nhỏ Thiếu Sinh Quân vang vọng
trong màn đêm, thúc bách năo nuột như tiếng kêu chim chíp
của gà con mất mẹ, làm cho tôi vô cùng xốn xang, bức
xúc. Các em chẳng có nơi nào dung thân, chỉ c̣n biết
trông cậy vào các anh lớn đùm bọc. Là tiểu
đoàn trưởng tiểu đoàn lớp lớn nhất,
tôi nhận ra trách nhiệm của ḿnh. Tôi không thể ngồi
yên khi nghĩ đến bạn bè và đàn em đang ở
trong trường. Có thể lúc này cộng quân đă có mặt
đâu đó gần Vũng Tàu hay quanh trường,
nhưng tiếng gọi loa đă khiến tôi phải đứng
lên và cương quyết trở lại trường với
các em. Bố Mẹ Vần lo lắng khuyên chúng tôi đổi
ư. Tôi cám ơn Bố Mẹ Vần và nói trước khi cùng
Thịnh phóng vào đêm tối:
‘’Tụi con không thề bỏ các em được ‘’.
Về đến
trường, các bạn cùng liên lớp với tôi như Lâm
A Sáng, Phạm Ngọc Tŕnh, Nguyễn Văn Minh cũng
đă có mặt. Tôi nhận thấy các bạn đă phá cửa
kho vũ khí của trường và đang h́ hục khuân vác
súng đạn ra các ổ canh gác. Một toán các Thiếu
Sinh Quan khác th́ đang xả thịt một con ḅ, lui cui nấu
cơm và luộc thịt. Thế là tôi vớ lấy một
cái nón sắt, chụp một khẩu carbine cùng với Thịnh,
cũng trang bị y hệt, lúc nào cũng kè kè bên cạnh.
Hai đứa chúng tôi tự xem trách nhiệm tổ chức
canh gác như nhiệm vụ được anh em giao phó.
Nh́n lên bầu trời đen thẳm với nỗi cô
đơn chợt đến, chợt đi, tôi suy nghĩ
lan man với một bài toán không đáp số. V́ trách nhiệm
của anh lớn bảo bọc đàn em, chúng tôi sẵn
sàng cho một cuộc chiến. Cuộc chiến này sẽ
đi về đâu ? Chúng tôi không biết. Tương quan lực
lượng nghiêng lệch ra sao? Chúng tôi chẳng cần
bàn. Không ai trong chúng tôi tin là ḿnh sẽ chiến thắng,
nhưng chúng tôi vẫn sẽ chiến đấu, ít nhất
chúng tôi cũng phải đánh trả đích đáng những
ai muốn chiếm lấy ngôi trường này, nơi dung
thân cuối cùng của chúng tôi.
Tôi và Thịnh vác súng đi một ṿng toàn trường.
Thăm các chốt và các cḥi canh. Các chốt canh gác các hướng
xâm nhập chủ yếu đều được trang bị
vũ khí cộng đồng với xạ thủ, phụ
tá xạ thủ và nhân viên tiếp đạn. Nh́n những
Thiếu Sinh Quân đàn em chững chạc, tự tin bên những
ổ súng, thành thạo nạp những băng đạn
vào súng, sẵn sàng khai hoả, tôi bỗng thấy các em chợt
lớn lên như những anh hùng Phù Đổng. Tôi đặt
mật khẩu dặn các chốt canh phải học thuộc,
nếu thấy bóng người th́ lên tiếng hỏi. Trả
lời không đúng mật khẩu là “quạng” liền lập
tức. Toàn trường đặt trong t́nh trạng báo
động và sẵn sàng chiến đấu bất cứ
lúc nào.
Sau khi dạo
vài lần, nhận thấy các chốt canh đă được
chuẩn bị đạn dược chu đáo, mật khẩu
thông thuộc, tất cả mọi người đều
được phân phát khẩu phần đầy đủ.
( Nh́n càng bạn “chén” bữa cơm nửa khê, nửa sống
một cách ngon lành, tôi có cảm giác bữa cơm hôm nay có lẽ
là bữa cơm ngon nhất kể từ ngày nhập
trường của các bạn.)
Tôi và Thịnh quay lên pḥng làm việc của chỉ huy
trưởng nghỉ dưỡng sức. Lúc này Thịnh
quá mệt, chẳng c̣n tha thiết ǵ nữa. Cậu ta chui
ngay vào một góc và chỉ vài phút sau là đă bắt đầu
“kéo đờn c̣.” Ngoài trời đêm đen thật thanh vắng,
tôi ra ngoài đứng trên ban công nh́n qua trại gia binh bên cạnh,
tự hỏi không biết gia đ́nh Vần đang làm ǵ và
nghĩ đến ánh mắt yêu thương của Mẹ
Vân nh́n hai đứa tôi khi ăn cơm với linh cảm
ḿnh sẽ không bao giờ có lại được bữa
cơm đó.
Nh́n qua lầu 2 pḥng quân số, tất cả đều yên tĩnh. Tôi biết một số quá mệt, chắc cũng đă “hồn bướm mơ tiên,” tuy nhiên hẳn cũng đă phân công thay phiên nhau ngủ. Những con gà con rối loạn chỉ trong ṿng vài tiếng đồng hồ nay đă trở thành những con mănh hổ đang nằm phục sẵn. Không ai có thể ngờ được sức mạnh của những con mănh hổ này lợi hại đến nhường nào.
Tôi quay lại pḥng chỉ huy trưởng, và ngủ thiếp đi tự lúc nào không hay. Trong giấc mơ, tôi thấy ḿnh đang ở nhà quây quần cùng với cha mẹ và anh em. Hai đứa em gái của tôi, bấy giờ mới được 7 và 8 tuổi, đ̣i tôi dẫn đi chợ. Hằng năm, mỗi lần được về phép thăm nhà, anh em chúng tôi, như đă thành thông lệ, thường được cha mẹ cho tiền. Hai cô em gái của tôi th́ rất thích ăn yaourt. Ở chợ gần nhà có quán của bà Ba, yaourt của bà làm thật là ngon tuyệt. Thế là ba anh em chúng tôi lại đến ṿi mẹ xin tiền rồi mỗi đứa một bên, tôi dắt hai em đi chợ. Đi gần đến chợ th́… một em Thiếu Sinh Quân lay tôi dậy. Tôi mở mắt thấy trời hừng sáng. Em nói Anh Dũng ! Có lính đông lắm, đang đi về phía ḿnh.
Tôi bật dậy, nhảy ngay ra ban công nh́n về hướng đại lộ độc đạo dẫn vào cổng trường. Trời đang mưa lâm râm, c̣n mờ mờ tối, cảnh vật rất yên tĩnh. Tôi chẳng nh́n thấy ǵ và nghĩ cậu bé lay ḿnh dậy chắc v́ hoảng sợ nên tưởng tượng, trông gà hoá cuốc. Sắp sửa quay lưng trở về chỗ nằm th́ tôi chợt nghe tiếng oang oang của Hạ Sĩ Hoành, các anh em đặt biệt hiệu vui là Hoành heo. Anh Hoành là hạ sĩ quan cán bộ hỏa đầu vụ. Tôi ngạc nhiên với sự hiện diện của Hạ Sĩ Hoành, chẳng biết Anh nhập cuộc từ bao giờ. Hạ sĩ Hoành bảo chúng tôi :
‘’Tụi bay
ở đó đi! Chắc
là lính ḿnh đó ! Để
tao ra coi thử’’.
Cùng đi với hạ sĩ Hoành là Nguyễn Văn Thành
liên lớp 12 và một Thiếu Sinh Quân nữa tôi không biết
tên. Đến lúc đó tôi mới phát hiện có môt nhóm
người lố nhố ở tít đằng xa đang tiến
dần về phía chúng tôi. Tôi đứng trên lầu căng
mắt theo dơi và dặn anh em chuẩn bị sẵn sàng cho
mọi bất trắc. Đột nhiên, tất cả chúng
tôi đều nghe tiếng hạ sĩ Hoành la lớn: Việệt
Cộộộng!
Tiếng hô vừa dứt th́ lập tức tất cả hỏa lực đặt sẵn ở lầu 1 pḥng quân số, pḥng chỉ huy, các khu vực tháp canh nhất tề khai hoả yểm trợ cho đồng đội chạy trở vào trường. Cộng quân chắc không thể nào ngờ họ lại được đón tiếp một cách “nồng hậu” như vậy. Suốt khoảng thời gian gần 15 phút, hoả lực từ trong trường dập ra thật dữ dội. Cộng quân bị tấn công bất ngờ, chui rúc t́m chỗ tránh đạn, chỉ nghe rời rạc vài tiếng AK bắn trả. Có lẽ họ nghĩ trường Thiếu Sinh Quân đă di tản và bỏ trống. Những phút giây khai hoả dữ dội ở cổng trường đă làm cho tất cả lực lượng chiến đấu c̣n lại của trường tỉnh táo và sẵn sàng ở vị trí ứng phó 5/5.
Bên ngoài trường, hẳn là đồng bào đă choàng thức và ngạc nhiên, lo âu, nh́n về hướng trường Thiếu Sinh Quân. Một buổi sáng họ không bao giờ quên. Trong trường, anh em di chuyển nhộn nhịp hẳn lên. Tôi nh́n thấy Lâm A Sáng (hiện đang định cư tại Seatle, Washington ) và Phạm Ngọc Tŕnh (đă chết ở Việt Nam) chạy lúp xúp sang ban quân số, đứa vác súng, đứa vác đạn. Đến ban quân số, tầng trên đă chật ních những xạ thủ, Sáng và Tŕnh phải nằm thủ ở bậc cầu thang. Thoắt một cái khẩu trung liên Bar của Sáng và Tŕnh đă sẵn sàng tham gia cuộc chiến. Súng vẫn c̣n nổ gịn giă th́ Hoàng Văn Mạ đang thủ khẩu đại liên trên lầu gào lớn :
‘’Ê, tụi
bây! Bắn cho chính xác và vừa thôi, coi chừng hết
đạn nghe’’.
Tiếng gào của Mạ, như thể một mệnh lệnh,
khiến cho tất cả các khẩu súng đều ngừng
khạc lửa. Khói súng mịt mù. Mùi thuốc súng nồng nặc.
Tai tôi lùng bùng v́ tiếng đạn tưởng rách màng
nhĩ. Xa xa ngoài cổng trường, các bóng cộng quân biến
đi đâu mất. Bên trong sân trường và các ổ chiến
đấu th́ hết sức tĩnh mịch, cái yên tĩnh
rùng rợn của một hứa hẹn đổ máu thật
dễ sợ mà lần đầu tiên trong đời tôi mới
cảm thấy. Tôi đoán cộng quân thế nào cũng sẽ
tấn công để chiếm trường. Tôi cũng biết
quyết tâm của những tay súng Thiếu Sinh Quân liều
lĩnh. Chúng tôi lúc này như đă ở vào thế cận
chân tường, chiến đấu trong tâm trạng
“điếc không sợ súng” và ư nghĩ “không c̣n ǵ để
mất!”
Bên ngoài, trời đă bắt đầu rạng sáng. Trấn
tĩnh đội h́nh, cộng quân bắt đầu tấn
công chiếm trường. Bọn chúng cho một toán quân
tiến qua khách sạn đối diện trường ở
bên kia đường và chiếm giữ các vị trí trên
các tầng lầu nhằm giảm lợi thế của
chúng tôi khai hoả từ trên cao. Một mặt, bọn
chúng đưa hỏa lực mạnh như súng cối,
súng phóng lựu, B-40 để công phá chúng tôi từ mặt
đất, v́ với vị trí pḥng thủ kiên cố, hoả
lực nhẹ của họ không có tác dụng uy hiếp
được chúng tôi .
Cuộc chạm
súng đợt hai khởi diễn với quả đạn
pháo của cộng quân rớt vào giữa sân banh sau lưng
chúng tôi. Lần đầu tiên bị pháo giữa sân trường,
lẽ ra phải nằm xuống tránh miểng đạn,
một số các em hoảng sợ chạy tán loạn t́m chỗ
che lưng, cũng may là không ai bị trúng thương. Tiếp
theo là một phát B-40 thổi tung cổng trường, một
em Thiếu Sinh Quân, có lẽ thuộc liên lớp 9 hoặc
10, chạy ra kéo cửa đóng lại. Vừa đóng xong,
em chạy qua nấp bên bức tường đá phía pḥng
chỉ huy. Tất cả sự việc xảy ra trong ṿng
không đầy một phút, em vừa kịp lách ḿnh vào thành
đá là một quả B-40 thứ hai nốI tiếp một
lần nữa mở toang cổng trường. Giỡn mặt
với tử thần như vậy cũng tạm đủ.
Từ giờ phút đó chẳng ai “thèm” chạy ra đóng cửa
nữa. Nh́n rơ mặt, đánh nhau mới “sướng!”
Mặc dầu có những lỗi lầm ngu ngơ của lần
đầu tiên trong đời đối mặt với kẻ
thù như vừa kể, cuộc chạm súng đợt hai
đă diễn ra thật dữ dội. Đối phó với
địch quân trên tầng lầu khách sạn, Phú Văn
Đại cầm khẩu M-79 bắn trực xạ vào các
ô cửa pḥng khách sạn. Chẳng hiểu hắn luyện
tập khi nào mà xử dụng vũ khí rất chuyên nghiệp.
Cộng quân bị khốn đốn rất nhiều với
anh chàng này. Đối phó với toán quân trên b́nh địa
là các khẩu đại liên phối hợp với các khẩu
trung liên, tiểu liên thay phiên bọc lót cho nhau. Những
tràng đạn gịn tan đủ âm độ được
tô điểm bởi những phát nổ cầm chừng của
các khẩu garant nhịp nhàng ăn ư, lâu lâu lại có tiếng
dậm đậm đà của cây phóng lựu M2. Tất cả
các âm thanh quyện lại như một giàn nhạc giao
hưởng điêu luyện và biến thành một lướI
đạn chằng chịt phủ xuống đầu
đối phương.
Với quân
số hơn một tiểu đoàn chính quy Bắc Việt,
đối phương dồn hoả lực cố gắng
tạo kẽ hở để vượt lên tiến đến
gần chúng tôi. Nhưng với vị trí thuận lợi và
những tay súng gan ĺ không hề nao núng trước làn đạn
kẻ thù, các em nhỏ Thiếu Sinh Quân đă buộc cộng
quân phải bó tay, dậm chân tại chỗ suốt hơn
một giờ chiến đấu.
Đến khoảng 7 giờ sáng, từ bên pḥng chỉ huy
trưởng, tôi chạy băng qua pḥng quân số để
theo dơi việc tiếp đạn cho các khẩu đại
liên đặt tại đó. Qua hai cánh cổng mở toang,
tôi thấy một tên bộ đội cộng sản
đang đặt khẩu phóng lựu trên vai nhắm thẳng
ngay tôi. Tôi bật ngay khẩu carbine trên tay hướng về
hắn bóp c̣. Cùng lúc, viên đạn từ ṇng súng của hắn
cũng xẹt ánh sáng xanh bay về phía tôi. Chệch qua mặt
tôi khoảng hai gang tay, viên đạn trúng đài biểu
tượng Nhân Trí Dũng phá tan một mảnh đá lớn.
Ngay lúc đó, tôi cảm thấy hoa mắt, chân và vai tê rần.
Khuỵu xuống vớI chân phải bị trúng
thương, tôi liếc nh́n xuống chiếc áo sơ mi
đang mặc loang lổ đầy máu tươi. Một
thoáng tích tắc ngạc nhiên không hiểu tại sao áo ḿnh
đầy những máu mà không cảm thấy một chút
đau đớn ǵ th́ tôi ngă ra ngất xỉu. Trong lúc
đó Lâm A Sáng cũng bị một phát đạn vào chân.
Lê Văn Tánh (c̣n ở tại Việt Nam) chạy lại
băng bó cho Sáng, một lúc sau cũng lănh một viên đạn
vào đùi.
Thế là Phạm
Ngọc Tŕnh cơng Lâm A Sáng, Nguyễn Văn Minh cơng tôi chạy
qua khu Văn Hoá. Nghe kể lại, hai Thiếu Sinh Quân
đă dùng tấm drap giường làm vơng khiêng tôi đang mê
man ra đến bệnh viện Vũng Tàu cách trường
vài cây số.
Các anh em Thiếu Sinh Quân ở lại vẫn tiếp tục
chiến đấu măi cho đến gần 10 giờ sáng.
Khi ấy đạn dược đă gần cạn, các bạn
mới quyết định gọi loa điều đ́nh
ngừng bắn và treo cờ trắng đầu hàng. Một
sự đầu hàng trong danh dự v́ các em vẫn
đường hoàng làm lễ hạ Quốc kỳ và thay
vào đó bằng tấm drap trắng dong lên cho phép cộng
quân đặt chân vào ngưỡng cửa ngôi trường
yêu dấu. Cộng quân hẳn phải bàng hoàng khi thấy
những đối thủ kiêu hùng của họ chỉ là
các em Thiếu Sinh Quân tuổi trung b́nh 15, 16 mà thôi. Họ uất
ức, nhưng chắc hẳn cũng phải thán phục
các tác giả của 6 xác bộ đội đang nằm
phơi nắng ngoài cổng trường .
Theo lời thuật lại của Lâm A Sáng, th́ trong hơn 100 Thiếu Sinh Quân tham gia trận đánh, đa số đă leo rào sau trường trốn thoát trước khi cộng quân xông vào cổng trường, chỉ c̣n vài chục em nhỏ ở lại với các anh lớn bị thương không thể đào thoát. Tất cả bị bắt giữ đem nhốt qua trại gia binh Cô Giang bên cạnh trường. TrạI Gia Binh Cô Giang vốn là ngơ ngách quen thuộc của các Thiếu Sinh Quân. Kết quả là tất cả đă chui rào biến mất, khiêng luôn cả Lê Văn Tánh bị thương nặng ở đùi theo. Nhốt Thiếu Sinh Quân ở Trại Cô Giang chẳng khác nap2 thả hổ về rừng.
Trở lại
phần tôi, tỉnh dậy trong bệnh viện Vũng Tàu
th́ trời đă tối. Chân và vai đau đớn v́ miểng
đạn, mặt th́ sưng vù không há miệng được
do vết thương ở bên má. Cho đến bây giờ,
hơn 27 năm sau, ngồi viết đến đoạn
này tôi vẫn không ngăn được niềm xúc động
và tự hào cho t́nh yêu thương lẫn nhau hiếm có của
những con người Thiếu Sinh Quân.
Bệnh viện đầy ngập những người bị
thương. Nhân viên y tế không đủ để
chăm sóc. Tôi bị bỏ nằm trên nền đất lạnh
cả đêm chẳng có y tá nào ngó ngàng tới. Chỉ có một
em Thiếu Sinh Quân lớp 9 mà măi đến 27 năm sau,
t́nh cờ do một duyên may tôi mới được biết
tên, là Nguyễn Kim Hùng (hiện cư ngụ tại
Oklahoma), đă ở lại chăm sóc cho tôi. Em thức suốt
đêm cạy miệng đổ sữa cho tôi cầm sức
và quanh quẩn bên tôi để giúp đỡ. Đến
sáng hôm sau th́ một đám bạn cùng lớp gồm Thịnh
nhóc, Thành râu (hiện định cư tại Minnesota), Thiện
huế và vài anh em nữa tôi không nhớ tên đến bệnh
viện đón tôi đi. Các bạn rất vất vả
thay phiên nhau cơng tôi đi măi đến khi trời chập
choạng tối th́ chúng tôi mới về đến Bà Rịa.
Nghỉ ở Bà Rịa một đêm, sáng hôm sau, chúng tôi lại
d́u dắt nhau t́m phương tiện để trờ về
thành phố .
Lịch sử đă sang trang. Hơn một phần tư thế kỷ đă trôi qua. Trường Thiếu Sinh Quân ngày nay đă trở thành trụ sở của một công ty dầu khí ở Vũng Tàu. Tuy nhiên, trong ḷng những người dân xứ biển, h́nh ảnh hào hùng của các Thiếu Sinh Quân trong trận đánh giữ trường lịch sử măi măi sẽ không bao giờ phai nhạt. Tổ quốc sẽ ghi danh trong quân sử những người con Thiếu Sinh Quân vũ dũng kiêu hùng đă viết nên thiên anh hùng ca bất khuất cho quân đội.
Trích từ tài liệu [6] :
Đến những ngày đầu tháng 4/1975 th́ Vùng I & Vùng II Chiến Thuật lần lượt rơi vào tay cộng quân, từ đó làn sóng tị nạn cộng sản bằng nhiều cách và nhiều phương tiện đă tháo chạy vào miền Nam định cư (đặc biệt đường thủy) mà điểm đến đầu tiên là mảnh đất Vũng Tàu .
Trước năm 1975 muốn vào Vũng Tàu, chỉ có đường lớn (độc đạo) và thuận tiện nhất là từ Ngả Tư Giếng Nước chạy trực diện đến trước cổng trường TSQ (Quốc lộ 15), rẻ trái rồi vào trung tâm Thị Xă (và cũng chính tại vị trí chiến lược nầy, mà cuộc ác chiến đă nổ ra vào sáng 30/4/1975 giữa TSQ và cộng quân Bắc Việt là điều không thể tránh khỏi).
Vũng Tàu là một trong những thành phố an ninh bậc nhất của MNVN lúc bấy giờ, nên có nhiều hậu cứ Quân Binh Chủng, trung tâm huấn luyện, quân trường … trú đóng trải rộng khắp Thị Xă Vũng Tàu (TXVT) và vùng ven Bà Rịa (BR). Trường TSQ cũng không ngoại lệ, nhưng đặc thù hơn v́ có hạ tầng xây dựng kiên cố, to lớn (do người Pháp xây dựng vào những năm đầu Thế kỷ XX) mà lại nằm tại điểm chiến lược như sẽ nói …
Mặt trước là thị xă Vũng Tàu + Bến Đ́nh (BĐ), mặt sau trường được tựa lưng vào Núi Lớn như một bức tường vững chải .
Càng gần đến ngày 30/4/1975 tôi lại có trực giác chính quyền tại Thị Xă Vũng Tàu (TXVT) đang mất dần khả năng kiểm soát và trị an.
Mặc dù thế, toàn Liên Đoàn (LĐ) TSQ vẫn sinh hoạt b́nh thường hay nói đúng hơn là rất quân kỷ, nghĩa là chúng tôi phải tập họp đi học mỗi sáng, tự học về đêm tại khu Văn Hóa rồi học vơ thuật mỗi buổi chiều, và tập luyện quân sự sáng Thứ Năm theo lịch định.
Mọi thứ không ǵ thay đổi cho đến ngày 28/4/1975 … V́ chúng tôi là những TSQ lớn và uy tín, lại thâm niên nhất, như là “niên trưởng” của cả Liên Đoàn khóa sinh vậy! (mặc dù danh xưng nầy chúng tôi không dùng đến) Được lệnh từ Thiếu tá Liên Đoàn Trưởng (LĐT) Nguyễn Hồng Hoàng đặc cách 10 người trong chúng tôi nhận 10 khẩu carbine M1 để tự vệ và chỉ huy khi cần thiết …
Vào buổi sáng ngày 29/4/1975, t́nh h́nh trở nên tồi tệ hơn, quân số cán bộ cơ hữu và sỉ số TSQ giảm đi rơ rệt. V́ phần TSQ cư trú tại Vùng III & Vùng IV Chiến Thuật được đặc cách cho về với gia đ́nh (> 800 khóa sinh). Lúc nầy chỉ c̣n tại Trường những TSQ ở Vùng I & Vùng II + một ít TSQ thuộc miền Nam chưa về kịp. Tổng số TSQ lúc nầy vào khoảng 600 (TSQ có quân số hơn 1400 người).
Đến 7h30 (29/4) chúng tôi nghe từ loa phóng thanh (ở Khu Giải Trí Liên Đoàn) do Thiếu Tá Hoàng (LĐT) thông báo :
– Tất cả TSQ chuẩn bị tập họp, cuộc di tản bằng trực thăng đi Hạm Đội 7 sẽ bắt đầu, hành lư lên máy bay chỉ được 2kg/người và tuyệt đối không mang theo Quân trang hay Quân dụng ǵ.
Sau khi nhận lệnh, chúng tôi khẩn cấp tập họp 4 Tiểu đoàn TSQ khắp bốn chung quanh sân banh (sân bóng đá) trước Kỳ Đài “NHÂN -TRÍ – DŨNG” (là bục xi-măng khá rộng, cao 0, 5m với 3 cột cờ và phù hiệu lớn “NHÂN -TRÍ – DŨNG” thật trang trọng). Ngoài 4 Tiểu đoàn (TĐ) TSQ được chia từ lớn đến nhỏ (gồm : TĐ I :Hùng Vương, TĐ II :Lê Lợi, TĐ III :Ngô Quyền, TĐ IV:Quang Trung ) c̣n thêm quân nhân cơ hữu của trường và gia đ́nh họ, tổng cộng chừng 800 người.
Khoảng 8h00, một chiếc trực thăng UH1_A (vẫn c̣n màu sơn chữ ICCS, tức loại trực thăng trước đây vài năm, chuyên để phục vụ cho “phái đoàn quân sự 4 bên” đàm phán về Hiệp Định Paris) đáp xuống chở 07 TSQ nhỏ nhất thuộc TĐ IV:Quang Trung và gia đ́nh một cán bộ chỉ huy + Chuẩn úy Hà Văn Cúc (an ninh quân đội) bay đi làm tiền trạm.
Lúc chiếc UH1_A bay lên là như có dấu hiệu cho 2 chiếc trực thăng vận tải cỡ lớn -mà chúng tôi thường gọi đùa là “sâu róm”- lượn ṿng trên Núi Lớn (c̣n gọi là núi Tao Phùng) chuẩn bị đáp xuống … và bất ngờ quanh băi đáp bị pháo kích dữ dội, rơ nét nhất là một trái rơi phía sau Trường, một trái nữa dội trúng sườn Núi Lớn, bụi mù tung tóe.
Lập tức, Đại úy Lê Viết Đắc TĐ trưởng (TĐI:Hùng Vương) ra lệnh tan hàng t́m nơi ẩn nấp … bên trên 2 chiếc “sau róm” không dám hạ độ cao, liền quay đầu và chuyển hướng mất dạng. Sau khi bị pháo kích, chúng tôi lại tập trung đội h́nh quanh sân banh, dù ít chỉnh tề hơn nhưng vẫn chờ đợi … gần đến 10h chúng tôi được lệnh mới:
– Kế hoạch không vận bị hủy bỏ, chuyển sang hải vận ở Hải cảng Cát Lở.
Cuộc không vận bất thành, trong t́nh thế hoang mang nầy, tất cả TSQ bỏ lại mọi thứ (ở tại Trường) và lên đường …
Thiếu Tá Hoàng LĐT lệnh cho các TSQ có vũ khí như chúng tôi hướng dẫn tất cả 4 Tiểu đoàn di hành ra Hải cảng. Anh em TSQ di chuyển thành toán dài trật tự. Cát Lở cách Trường TSQ khoảng 5km (đây là căn cứ Hải Quân, nơi trú đóng của Bộ Tư Lệnh Hải Quân vùng III Duyên Hải).
Nhưng gần đến nơi th́ đoàn quân bổng dừng lại … khoảng 15 phút sau chúng tôi được lệnh: “đàng sau … QUAY !” rồi đột ngột, tất cả lại trở về nơi xuất phát.
Từ Cát Lở, trên đường lui binh tôi được biết, các đơn vị của nhiều binh chủng (như đă nói), trang bị vũ khí, giành giật nhau băi đổ của Chiến hạm … mà nổi bật là binh lính của TĐ 4: Ḱnh Ngư TQLC (Thủy Quân Lục Chiến) quyết ngăn cản TSQ chúng tôi không cho vào đợi Tàu Hải Quân di tản. Và cuối cùng, cũng chẳng có đơn vị nào may mắn hơn v́ không một chiến hạm nào cập bến cả!
Đầu giờ chiều 29/4/1975, TSQ chúng tôi lầm lũi quay lại Trường trong thất vọng:
– Kế hoạch Hải vận nầy thất bại.
Trên đường quay về từ Cát Lở, TSQ chúng tôi thật ngỡ ngàng khi chứng kiến các pḥng ngủ của từng Trung đội bị xới tung và trộm đi nhiều thứ … vài nơi ở TĐ IV: Quang Trung c̣n bùng ra nhiều đám cháy. Hậu quả do tất cả TSQ rời đi Cát Lở di tản, để lại ngôi Trường vô chủ trống vắng, nên kẻ trộm nhiều thành phần tràn vào “hôi của” là điều dễ hiểu.
Và không lâu sau đó, chiếc xe Jeep chở Trung Tá Ngô Văn Dzoanh cùng nhiều quân nhân cơ hữu của Trường rút chạy ra khỏi cổng, đồng thời một cán bộ thay mặt ban chỉ huy tuyên bố: ‘’Từ bây giờ, chúng tôi (cán bộ cơ hữu Liên Đoàn) không c̣n trách nhiệm ǵ với TSQ nữa, các em phải tự lo lấy bản thân …’’.
Thế là hết! Trong ngày 29/4/1975 nầy, TSQ chúng tôi phải chịu 3 dấu ấn năo nề … sáng nay Không vận chẳng được, chiều đến Hải vận không xong và giờ đây trước mặt chúng tôi là sự rút chạy, đào ngũ của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn … TSQ chúng tôi lúc nầy đang bị bỏ rơi! Tôi đang miên man suy nghĩ, bất chợt ư niệm “Sự Sống … Gạo… sắp lâm trận …“ làm tôi sực tỉnh và vùng lên lao vào nhà bàn, là nơi có kho gạo của Trường. Với khẩu M1 trên tay dĩ nhiên đủ thị uy bọn trộm cướp … nhưng hỡi ôi! Chậm mất rồi, chẳng c̣n ǵ ngoài 01 bao gạo 50 kí lô, tôi đành chuyển cho các em đem đi “thổi cơm” … và chia nhau v́ trời sắp tối.
Cũng nên nói thêm, gạo th́ vừa có dù không đủ nhưng thức ăn th́ sao? Tôi tự hỏi và nghĩ đến đàn ḅ, là tài sản “nổi” của Trường được nuôi trên dưới 10 con (nhằm hằng năm phục vụ cho liên hoan mừng lễ măn khóa TSQ cũ và khai giảng, tuyên thệ cho TSQ mới), nên tôi lại bổ nhào xuống chuồng ḅ gần ban Quân xa kiểm tra … chuồng trống không ! Lại mất trộm tất cả, chỉ c̣n lại con ḅ đực to lớn, hung dữ (có lẽ v́ thế nên chưa bị bắt mất) không lâu sau tôi bắt gặp nó đang lang thang giữa sân Tenis và lầu Chỉ Huy … “vậy là các em TSQ có thức ăn đêm nay rồi!” … tôi nghĩ thế và liền bắn hạ.
Cũng đă hơn 17h (29/4/1975). Về phần ḿnh lúc nầy tôi không thấy đói, có lẽ v́ cũng chẳng có ǵ để ăn … uống vài ngụm nước ở nhà bàn, tôi vội lên Liên Đoàn t́m chọn một số TSQ nhỏ nhất (v́ các em nầy không thể tác chiến, ngược lại có thể thương vong hoặc vướng bận khi lâm trận). Tôi đưa các em theo ngả tường rào Nhà Thờ ở Khu Văn Hóa ra đến TXVT, gửi gắm cho những nhà quen biết trước đây.
Tôi ṿng quanh ở TXVT không lâu, và chứng khiến toàn cảnh thật hăi hùng … V́ Băi Trước Vũng Tàu không có cầu cảng nên tàu chở người tị nạn CS ở miền Trung vào phải bỏ neo khá xa bờ, chờ đợi chuyển tiếp lên đất liền … họ lại bệnh tật, đói khát khi lên đênh trên biển vào Nam, rồi chết và bị ném xuống biển … những đợt sóng cứ vô t́nh lùa đưa xác người bồng bền vào ghềnh đá (dưới chân bên nầy ḥn Núi Lớn mà bên kia là Trường TSQ), nhiều lắm !Lúc nầy hoàng hôn xuống dần và tôi cố nh́n mà không thể phân biệt đâu là đá tảng và đâu là xác người.
Trời sắp tối, lúc leo rào trở lại Trường, th́nh ĺnh tôi nghe … “Đoành” … một phát súng chát chúa phát ra từ Kho Súng, chưa biết chuyện ǵ, tôi vội băng ngang Khu Văn Hóa đến Kho Súng ở Khu Liên Đoàn … th́ ra TSQ Nguyễn Ngọc Loan là tác giả vụ nổ súng phá Kho nầy, và đang mở toang cửa để các TSQ ùa vào giành lấy vũ khí tự vệ cho riêng ḿnh, trước mắt tôi cảnh tượng hiện ra thật khó tả … các em TSQ khẩn cấp chuyền tay nhau đủ loại súng lấy từ kho, nào là : Carbine M1 & M2, Garant, Thompson, AR15, XM16E1, Trung Liên BAR, Đại Liên30, M79 (phóng lựu), M72 (chống Tank), một vài loại Cối và một ít lựu đạn … tôi thật sự ngớ người một lúc trong tâm trạng vui vui khi thấy các em TSQ rất “hăng” và quá “DŨNG”, nhưng cũng chẳng kém phần lo lắng v́ lúc này trời đă tối, mà mỗi em TSQ lại tự trang bị cho ḿnh loại vũ khí ḿnh thích th́ thật nguy hiểm – thích không có nghĩa là biết vận hành – tôi liền nẩy ư định sẽ tập trung tất cả vũ khí lại, chia loại rồi phân phát hợp lư theo khả năng sử dụng cho từng TSQ, từ đó anh em TSQ mới phát huy tối đa hỏa lực ḿnh có (dù điều nầy tôi chưa thực hiện được).
Các TSQ được lựa chọn đi hoặc ở nên giờ đây (cỡ 20h ngày 29/4/1975) quân số TSQ dưới 200 khóa sinh, không c̣n phân biệt lớn nhỏ, đang tụ lại từng nhóm, rút gọn về tập trung ở một số pḥng ngủ của Trung đội thuộc TĐ II:Lê Lợi … ánh đèn vàng hắt ra không đủ sáng đến tận sân banh, tôi đi một ṿng ngoài hành lang trong ánh sáng mờ tỏ nh́n vào từng Trung đội … một số TSQ lớn tự bằng ḷng với loại vũ khí ḿnh có và biết sử dụng, lại trầm ngâm chăm chú lau chùi để chuẩn bị cho trận đánh sắp tới. C̣n các em TSQ nhỏ hơn trong khi chuyển tải súng đạn, nếu có được vài khẩu tiểu liên khoát lên người th́ nét mặt rạng rỡ và như hănh diện lắm! ( mặc dù có thể các em chưa học cách sử dụng) … nh́n thấy cảnh nầy khiến tôi chạnh ḷng: _ Các em vô tư quá! Đâu biết tai họa sắp đổ xuống _ Trong đêm tối, tôi vừa đi vừa suy tính nhiều thứ … phải nhanh chóng t́m cách ổn định tinh thần các em TSQ để hệ thống Tự Chỉ Huy chúng tôi đạt hiệu quả tối đa khi lâm trận. Và cũng chính điều nầy, tôi liền phá tung pḥng vật tư Thể Thao Liên Đoàn lấy quần áo thể thao chia làm 2 đội và thông báo:
– Sáng ngày mai các em sẽ ra sân đá giao hữu giữa các đội, không phân biệt Tiểu Đoàn lớn nhỏ, chỉ phân chia 2 phe theo thể lực hợp lư là “Ok”… (và măi măi đây chỉ là lời hứa như cách trấn an, chứ trận giao hữu nầy không bao giờ xảy ra nữa! ). Thế là các em vui vẻ hẳn lên như luồng gió lạc quan thổi qua làm các TSQ hiếu động nầy trở nên b́nh tĩnh và tự tin hơn.
đến thời điểm nầy là (2h sáng, 30/4/1975) tôi nghĩ c̣n đủ thời gian cho các em TSQ nhỏ nhất “trốn Trường” (hay gọi là bỏ Ngũ) để tránh thương vong khi giao chiến, mà thực tế lúc nầy tổng số TSQ chỉ c̣n trên 150 em … nhiều TSQ đang ngủ, một vài em phát ra tiếng ngáy vô tư như chẳng quan tâm đến hiểm nguy đang ŕnh rập.
Bất giác tôi ngước lên nh́n Đàm Văn Hưng (một
TSQ đằm tính dân tộc Nùng cùng Tiểu Đoàn với
tôi, là người tác xạ M79 tuyệt vời sau nầy)
và hỏi:
– V́ sao các em TSQ cứ tụ tập ở đây (tại ngôi Trường này), không chịu “dọt” ? C̣n kịp mà … Khi “choảng” nhau, tụi ḿnh là TSQ lớn “ăn chịu”được nhưng c̣n các em th́ “vướng” lắm, Mầy biết không ?
– Đành vậy, chứ các em biết đi đâu bây giờ ? Chỉ c̣n ngôi Trường Mẹ nầy thôi! …với lại các em c̣n nói: “ở đây có các anh, tới đâu hay đấy đàng nào cũng có thể chết, không v́ đạn th́ cũng chết v́ đói, đánh th́ đánh, sợ ǵ ”
Tôi đành thừa nhận, chỉ bật cười và tự nhủ “đúng là TSQ kiêu dũng: rất L̀ v́ LIỀU và cũng có lúc rất LIỀU v́ L̀, âu biết đâu như thế cũng hay !”
Có lẽ v́ căng thẳng ră rời, tôi thếp đi … một loạt tiếng sấm vang rền trên bầu trời làm tôi choàng tỉnh, bật dậy định thần một lúc, tôi liền một tay vớ lấy khẩu M1, mắt nh́n ra khoảng không _ trời đen tối đang mưa, không lớn lắm_ và liếc nh́n đồng hồ, vậy mà đă hơn 4h, mặc gấp chiếc poncho lính, tay c̣n lại chụp vội chiếc nón sắt lên đầu rồi băng qua sân banh hướng đến cổng Trường (chạy với tôi lúc nầy là TSQ Đàm Văn Hưng, xạ thủ M79) …
Lại nói thêm về cổng chính trường TSQ, (v́ đây là nơi diễn ra cuộc đấu súng ác liệt nhất) nó được xây với hai cổng sắt dày kiên cố + tường rào cao sừng sững gần như phân cách giữa hai thế giới của cùng một Thị Xă Vũng Tàu, và một cổng phụ kề bên luôn có Điếm Trưởng (ĐT) kiểm soát (văn pḥng ĐT này đặt tại tầng trệt lầu Chỉ Huy).
Nh́n từ trong ra, bên trái cổng Trường là lầu Chỉ Huy (1 tầng) mà đối diện là đường Lê Lợi và Trại gia binh Cô Giang, bên phải là lầu Quân số (kiến trúc như lầu Chỉ Huy) lại có khách sạn (KS) International đối diện, đây là một dăy nhà hai tầng + nhiều pḥng khá vững chắc, lại có ưu thế v́ cao hơn và nằm gần sát lầu Quân số (chỉ cách bên kia đường) rất dễ khống chế mọi công sự pḥng thủ của chúng tôi cạnh tường rào.
Khi chạy đến cổng Trường, dừng lại và quan sát, tôi cùng Đàm Văn Hưng nhanh chóng quyết định phải tiến chiếm KS nầy trước bởi nó như một “lô-cốt” lợi hại khi giao tranh xảy ra … tôi nghĩ cần phải vô hiệu hóa ngay!
Không biết hậu quả thế nào ? Nhưng đă suy tính là chúng tôi liền hành động, lúc nầy chia làm 2 toán nhỏ: Toán thứ 1 từ cổng Trường rẻ trái tiến thẳng Bến Đ́nh gồm: Hạ sĩ nhất Hoành (nick name: Hoành heo, cán bộ Hỏa đầu vụ), TSQ Đinh Kê (nick name: Gà đạp đinh) và 1 TSQ (đă quên tên). Toán thứ 2 từ cổng Trường tiến thẳng hướng trước mặt là Quốc lộ 15 gồm: TSQ Đàm Văn Hưng, 4 TSQ và tôi. Cả 2 toán đều xuất phát cùng lúc, toán 2 đi trước, toán 1 đi sau.
Trong toán 2 ngoài Hưng ra, với số anh em (bốn TSQ tôi đă quên tên) tiến ra hai hàng từ cổng bên, với mục đích phải chiếm KS International trước Cộng quân, mưa nhẹ hạt nhưng trời vẫn tối đen, tôi dẫn đầu khom người tiến thẳng phía trước và căng mắt nh́n bốn chung quanh, gần đến cổng KS … từ phía trước bổng vang lên tiếng thét :
– Ai ? Đứng lại !
Trời tối, chẳng rơ tiếng thét từ đâu, không định vị được đối phương nên TSQ chúng tôi không khai hỏa … một ư thoáng qua “tụi ḿnh bị phục kích” và tôi th́ thầm với anh em:
– Đừng bắn, ”dọt” về Trường!
Anh em TSQ quay ngoắc 180 độ, như tên bắn phóng nhanh vào Trường, tất cả đều b́nh an … chỉ ḿnh tôi là người sau cùng, vừa chạy tôi tự nhủ :không thấy mục tiêu th́ bắn làm ǵ, ”dọt” lẹ là thượng sách! Nhưng chỉ lao qua cổng Trường chừng 2 bước chân … tôi thấy ḿnh như được nhấc bổng và bị ném vào gầm bàn của Điếm Trưởng trực nhật (khi hồi tưởng khoảng thời gian chớp nhoáng nầy, tôi không nhớ ḿnh đă nghe tiếng nổ ra sao nhưng vẫn c̣n tỉnh táo để cảm nhận sức công phá hất tung tôi vào bàn ĐT … một trái B40 nổ tung, xé thủng cổng sắt sau lưng tôi khi đang lao vào Trường), vài giây sau tôi nếm được vị mặn của máu từ đầu và tai nhỏ xuống, lồm cồm ḅ ra khỏi đống bàn ghế găy nát từ pḥng ĐT, lúc nầy tôi mới chắc ḿnh c̣n sống (mặc dù tai chỉ c̣n nghe được một bên), tự băng vội vết thương và như “say máu” (mà thực sự máu vừa đổ) tôi quay ngược đến lổ châu mai hướng ra đường bắn trả, nhưng chỉ một phát th́ kẹt đạn_quá tệ
Rồi đăo mắt một ṿng như cầu cứu “cho anh đổi một khẩu, súng ǵ cũng được !”, lập tức một em TSQ_TĐ3: Ngô Quyền liền trao khẩu AR 15 cho tôi rồi đột ngột “phóng” đi cũng như nhanh chóng “xẹt” đến vậy. Dù chẳng “ăn” mảnh đạn nào nhưng đầu tôi nhức như búa bổ, hơi loạn choạng và bắt đầu sưng tấy một bên tai. Lúc nầy quá 5h ngày 30/4 /1975, ngoài khẩu AR 15 và khẩu M72 chống Tank trên vai tôi thấy ḿnh như “giàu” thêm và tràn đầy nghị lực …!
Lại nói về toán 1 đi hướng Bến Đ́nh (theo lời kể của Đinh Kê), anh em đội mưa mang súng tiến xuống gần nửa đường liền vấp phải Cộng quân, lúc nầy trời vẫn c̣n tối, chính Hạ sỹ nhất Hoành (heo) nhanh mắt phát hiện và gào lên:
– Việt…Cộng!
Tất cả chạy thục mạng ngược lại vào Trường, (có lẽ 2 toán dù đi hai hướng khác nhau nhưng lại gặp “rắc rối” cùng lúc, nên anh em cũng không nổ phát súng nào!) Lúc nầy TSQ Lê Quang Nghĩa có nick name: Đại Hàn đă nghe tiếng gào, lập tức khai hỏa bằng Đại liên từ lầu Chỉ Huy, lập tức ở lầu Quân Số các khẩu Đại liên 30, Trung liên BAR, Tiểu liên các loại cũng tham gia bắn xối xả cứu nguy cho đồng đội rút vào. Vậy là hai Toán (1 & 2) chúng tôi rút lui an toàn, bên ngoài Cộng quân gia tăng sức ép cố đánh lấy cứ điểm khó nuốt này. Cuộc tấn công của Cộng quân lần 1 mang tính chất “thăm ḍ” bắt đầu …
Lúc nầy trời đă sáng tỏ, kể từ sau loạt đạn Đại liên và tiếng nổ B40 là lúc hai bên giằng co t́m mục tiêu triệt hạ nhau, tôi chạy dọc tuyến pḥng bị trong Trường, quan sát và t́m điểm xạ thủ thích hợp để phân công bắn trả, v́ chúng tôi đă rút hết vào Trường nên không thể dùng chiến thuật “chia cắt-đâm sâu-đánh vu hồi” được nữa, kể từ giờ phút này từ lầu Chỉ Huy và lầu Quân Số, TSQ “văi” đạn liên tục vào những nơi nghi ngờ và có chuyển động bất thường … đến nỗi TSQ Hoàng Văn Mạ (xạ thủ Đại liên trên lầu Quân số) gào lên:
– Bắn vừa thôi, nhắm chính xác. . . coi chừng hết đạn.
Nghe lời khuyến cáo hợp lư, hỏa lực trong Trường bắn ra giảm hẳn, chỉ cầm chừng vài loạt rời rạc và bây giờ như cuộc hoăn binh “không giao kết”, TSQ nhanh chóng củng cố đội h́nh, chỉnh sửa vũ khí và công sự, kiểm điểm quân số chờ đợi những đợt tấn công mới. Cỡ 3 phút yên lặng đáng sợ nầy, tôi đủ thời gian phóng tầm mắt nh́n quanh ra khỏi Trường, không có ǵ đặc biệt ngoài mùi thuốc súng và tia nh́n bổng dừng lại trước cổng KS: 5 hay 7 chiếc nón cối nằm lăn lóc bên lề QL 15 (trước cổng KS International) …
Trận chiến mở màn nầy đă làm một phần thành phố Vũng Tàu (VT) + Bến Đ́nh (BĐ) giật ḿnh tỉnh thức, như đă nói: các đơn vị quân đội và dân chính có vũ trang của VNCH trú đóng tại VT + Bà Rịa rất đông, nhưng thật ngạc nhiên khi cộng quân tràn đến lại không một tiếng súng nào cầm cự để báo động, tất cả im lặng như đồng lơa và đúng hơn sự ngạc nhiên của mọi người không phải v́ VT im lặng mà v́ sự quyết chiến của TSQ, súng nổ dồn dập liên tục, khói súng có lúc đă làm mờ không gian đối diện …
Sau nầy tôi được biết, (lúc đó) tất cả dân quân VT đều lo lắng cho anh em TSQ đang “vùng vẫy” tại Trường. Thậm chí họ c̣n lập luận (có thể tóm gọn):
– Trời đất, bây giờ mà đánh nhau làm ǵ! Tụi “nhóc” chưa một lần ra trận, chẳng có kinh nghiệm chiến trường lại có ưu điểm nhỏ bé mà trà trộn vào dân để “dông” có hơn không?
– TSQ có lư tưởng của các em, chỉ sợ thương vong nhiều quá thôi! (lời anh Chu Văn Hải, cựu Thiếu tá LĐT_TSQ)…
Lúc nầy tôi thấm mệt, thấy đói và theo thói quen xuống nhà bàn nhưng chẳng có ǵ, tôi lục t́m tứ phía … may mắn c̣n một ít cơm khô chẳng đủ thiếu ǵ (nhưng đói là ngon!), và vắt một nắm vừa nhai ngấu nghiến vừa đi về hướng TĐ II: Lê Lợi.
Lúc nầy là 9h sáng 30/4/1975, lời kêu gọi buông súng đầu hàng vô điều kiện của Tổng Thống Dương Văn Minh vừa phát ra … quá phẩn uất, không biết hận cái ǵ tôi liền ném nắm cơm xuống đất và “lia” một băng chỉ thiên, rồi chạy ra cổng Trường tiếp tục tham gia chiến đấu. Tại đây tôi bắt gặp chiếc máy truyền tin PRC25 (đến gần nghe “rè … rè”) nhấc lên và áp ống liên hợp vào tai (dĩ nhiên tôi chỉ nghe một bên nên tiếng được tiếng mất), “… Cởi bỏ áo Vàng! Cởi bỏ áo Vàng! Xin nhắc lại: Cởi bỏ áo Vàng …”, tôi tự hỏi như vậy là sao ?. . . À! Nó khuyến cáo ḿnh đầu hàng đây mà! Nhưng“nó” là ai ? Tôi chẳng rơ. Chỉ biết bực bội xoay qua chiếc PRC25 và chụp ống nghe lên … nhưng nó đă hết Pin, tôi thầm nghĩ “cũng may mà hết Pin nếu không là ăn đạn nát máy rồi” !
Ngoài cổng Trường, bổng phát ra từ KS International giọng lơ lớ tiếng Bắc: “Tổng Thống chúng mày lệnh buông súng sao không chịu hạ vũ khí đầu hàng? … đáp lại giọng “loa rè lơ lớ” thật khó chịu, lập tức một loạt Đại liên ở lầu Chỉ huy đáp trả rồi dồn dập 1 tới 2 loạt nữa từ lầu Quân số liên tục nă vào KS, Trung liên, Tiểu liên các loại thi nhau dồn đối phương vào các tầng lầu KS. Bây giờ hai bên quan sát động tĩnh của nhau rơ từng chi tiết, vài loạt đạn chấm phá như “cầm canh” … khi Cộng quân đă chiếm được KS và trưng dụng các pḥng để bố trí hỏa lực và tấn công th́ sự chống trả của TSQ thất thế yếu đi rơ rệt.
Như đă dự đoán, tôi thu lượm đạn M79 loại trực xạ bỏ vào bao cát (bao đựng cát làm công sự dă chiến) và nh́n Đàm Văn Hưng, cả hai như hiểu ư không ai bảo ai chạy về pḥng ngủ LĐ, lên tầng 1 (TĐ II: Lê Lợi) _thấp quá, chưa tác xạ được_Leo lên tầng 2 (TĐ I: Hùng Vương)_ tầm nh́n c̣n bị vướng. Cả hai chạy lên trần áp chót có những cửa sổ nhỏ gọi là “chuồng cu”, mở ra tức th́ chúng tôi nh́n rơ các pḥng của KS International … không chậm trễ, TSQ Hưng trực xạ c̣n tôi lúc nầy vừa phụ xạ thủ (chuyền đạn) vừa “đề-lô”, sau khi quan sát chớp nhoáng tôi chỉ cần hô :
– Một … 5, tức th́ “ẦM” lầu một pḥng số 5 lănh trọn một quả M79. Hai …6 lại “ẦM”, pḥng số 6 lầu hai “ăn”đạn, cứ thế lần lượt không sót một pḥng nào.
Các pḥng của KS International đối diện tung tóe tan hoang, vài đám lửa đang âm ỉ cháy. Cộng quân không c̣n hỏa lực từ lầu KS yểm trợ, chúng rút sâu vào sau (KS) tránh đợt phản kích của TSQ.
Chúng tôi hết đạn M79 và chạy vội xuống pḥng tuyến ở tường rào để ḥa nhập cùng anh em chiến đấu, vừa chạy tôi vừa nghĩ “Chắc TSQ Đàm Văn Hưng có khả năng bẩm sinh nên mới bắn M79 chính xác như vậy !”, lúc nầy quả M72 (chống Tank) chưa dùng đến (mà cũng là quả M72 cuối cùng của anh em TSQ) tôi liền đặt trên tường rào hướng đầu súng về phía KS nhấn c̣ … “ẦM”, ánh chớp và tiếng nổ làm tôi như “bay tóc trán”, v́ mục tiêu chỉ bên kia đường Lê Lợi, quá gần và cũng quá “liều”!
KS bị vô hiệu và cũng chính là lúc các khẩu Đại liên và Trung liên ở hai lầu Chỉ huy và Quân số của Trường TSQ tái củng cố và sẵn sàng tham chiến. Vậy là cuộc tấn công lần 2 (của Cộng quân) vào Trường TSQ bị bẻ găy, dù đợt này Cộng quân phản kích qui mô và “quỷ quyệt” hơn.
Ở lần bị tấn công này, có thể v́ lầu Quân số không c̣n chỗ tác xạ nên TSQ Lâm A Sáng ( Nick name: Sáng Nhón) với khẩu Trung liên Bar cồng kềnh chưa kịp định vị chỗ chiến đấu th́ bạn đă lănh một viên đạn (cũng có thể một mảnh đạn) vào chân trái tại cầu thang Ban Quân số, từ lầu Chỉ huy nh́n sang tôi thấy Sáng “Nhón” trúng thương, vết thương không trầm trọng nhưng phải rời khỏi “cuộc chơi”, lập tức nhờ sự băng bó và d́u dắt của TSQ Lê Văn Tánh và Phạm Ngọc Tŕnh đă đưa được “Sáng Nhón” đi BV Lê Lợi _VT … sau này khi trên đường trốn chạy về BR với TSQ Trần Kim Tân (nick name:Tân Cời, sq :55/4567) tôi được biết TSQ Nguyễn Anh Dũng cũng “hứng” một số mảnh đạn vào đầu + đùi khá nặng được 2 TSQ Nguyễn Văn Minh (nick name: xe be, và một TSQ nữa tôi quên tên) đặt Dũng vào tấm drap chuyển đi, TSQ Lê Văn Tánh sau khi băng vết thương cho Sáng “Nhón” cũng “bỏ cuộc” v́ lănh một viên vào đùi (rất nặng), tất cả được tải thương theo hướng Nhà Thờ ở Khu Văn Hóa ra BV_Lê Lợi.
T́nh h́nh trong Trường quá bi đát, TSQ bị thương ngày càng nhiều (chưa có tử vong), đạn dần cạn kiệt, tay chân ră rời v́ đói … bây giờ đă trên 10h (ngày 30/4/1975). Tất cả TSQ bắt loa kêu gọi ngừng chiến với điều kiện: phải để TSQ làm lễ hạ Quốc Kỳ (cờ Vàng Ba Sọc Đỏ), ngược lại phía cộng quân tiến vào tiếp quản Trường TSQ mà không bị nổ súng chống trả… mọi điều diễn ra đúng với thỏa hiệp, Quốc Kỳ VNCH vừa hạ xuống, như ong vỡ tổ tất cả TSQ lớn nhỏ hủy bỏ mọi thứ: áo quần, súng đạn rồi tẩu thoát theo cách “truyền thống”: Trốn Trường! (về điểm nầy tôi nghĩ không ai hơn TSQ được!)
Tóm tắt sơ lược trong trận chiến này :
– Tham chiến : TSQ hơn 100 chiến sĩ ; Cộng quân hơn một tiểu đoàn tức hơn 500 tên;
– Vũ khí : TSQ thiếu hụt; Cộng quân đầy đủ tận răng;
– Lương thực: TSQ = 0, Cộng quân = Dồi dào.
Kết quả: TSQ dưới 10 bị thương; Cộng quân : 6 tử vong.
Dù chẳng làm nên lịch sử nhưng TSQ vũng Tàu cũng góp phần viết nên “bảng hùng ca QLVNCH” trong ngày miền Nam sụp đổ.
3- Tại Tỉnh Lỵ Chương Thiện (theo tài liệu [3] & [4] & [10]) :
Sau khi các đàn em TSQ tử thủ ngôi trường mẹ Vũng Tàu không lâu, tại Tỉnh Lỵ Chương Thiện ở Vùng Bốn Chiến Thuật, Đại Tá Tỉnh Trưởng Hồ Ngọc Cẩn đă tử chiến với cộng quân vào “tiếp thu”.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn – H́nh trích từ tài liệu [11]
Đại Tá Cẩn thuộc Binh Chủng Biệt Động Quân, xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Gia Định thời đầu 1950, về sau học Khóa 2 Sĩ Quan đặc biệt Quân Trường Đồng Đế.
Theo tài liệu [10] : V́ những chiến công trên chiến trường, tính đến năm 1970, TrungTá Hồ Ngọc Cẩn chiến sĩ được tương thưởng nhiều huy chương nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa với 78 chiếc gốm 1 Đệ Tứ Đẳng Bào Quốc Huân Chương,25 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu,45 Anh Dũng Bội Tinh với các loại Ngôi Sao,3 Chiến Thương Bội Tinh và 4 Huy Chương Hoa Kỳ.
Ông từng chỉ Huy Chiến Đoàn (Trung Đoàn) 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh vào giải vây An Lộc năm 1972.
Từ 1973, Đại Tá Cẩn làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Chương Thiện, nổi tiếng được lính mến dân thương.
Theo tài liệu [10] : Khi chọn Đại Tá Cẩn về trấn giữ tỉnh Chương Thiện vị Tư Lệnh Quân Đoàn 4 biết chắc Cẩn sẽ ít nhất hóa giải được áp lực giặc, không cho chúng tiến xuống Cần Thơ. Giữ vững được Chương Thiện tức là bảo đảm an toàn cho lănh thổ Quân Khu 4 ở bờ Nam song Hậu Giang.
Theo tài liệu [10] & [11] Vào mùa hè 1974, một người bạn cũ của Đại Tá Cẩn đă hỏi ông : ‘’ Anh từng là Trung Đoàn Trưởng, hiện lám tỉnh Trưởng, anh có nghĩ sau này sẽ làm Tư Lệnh Sư Đoàn không ? Ông đă khiêm tốn trả lời : Tôi lặn lội suốt mười bốn năm qua, gối chưa mỏi nhưng kiến thức có hạn.Được chỉ huy Trung Đoàn là cao rồi, ḿnh phải biết liêm sĩ chớ, coi Sư Đoàn sao được.Làm Tỉnh Trưởng bất quá nột hai năm nửa rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ tiến thân.Bấy giờ tôi về coi Trường Thiếu Sinh Quân hoặc coi các lớp huấn luyện Đại Đội Trưởng, Tiều Đoàn Trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được dạy các đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba tram trận đánh mà tôi đă trải qua ‘’.
Thời điểm 30-4-1975, mặc dù Dinh Độc Lập đă kêu gọi buông súng, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng một số chiến hữu gốc TSQ đă quần thảo với giặc đến viên đạn cuối cùng, triệt hạ hằng chục tên cộng quân. Ít nhất có 4 anh hùng gốc TSQ bị hành quyết tại chỗ.
Riêng Đại Tá Cẩn chịu nhục h́nh, khổ sai giam cầm, đến sáng ngày 14 tháng 8 năm 1975 bị xử tử tại sân banh Cần Thơ.
Xin ghi thêm chi tiết cuộc xử án Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn trích từ ba tài liệu [10] & [11] & [12] :
Theo tài liệu [10] : Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975,ở Sài g̣n, Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa buông súng đầu hàng, Nhưng ở Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cùng các sĩ quan trong Ban Chỉ Huy và các chiến sĩ Tiểu Khu vẫn c̣n tiếp tục đánh một trận tuyệt vọng nhưng lừng lẫy nhất trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Theo tài liệu [11] : Cựu Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang. Quang là người nạp đạn cho Cẩn xử dụng khẩu đại liên 30, bắn đến viên đạn cuối cùng trong công sự chiến đấu tiểu khu Chương Thiện.
Đánh tới viên đạn cuối cùng và giọt máu cuối cùng và đành sa cơ giữa ṿng vây bày lang sói. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 11 giở trưa ngày 01 tháng 5 năm 1975, quân ta không c̣n ǵ để bắn nửa.Đại Tá Cần ra lệnh cho thuộc cấp buông súng.
Bọn phỉ cộng không giết Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngay, chúng muốn làm nhục Người và làm nhục quân dân Miền Tây .Bọn chúng sẽ thiết trí một pháp trường và dành cho Người một cái chết thảm khốc hơn.Vào ngày 14 tháng 8 năm 1975, người dân thủ phủ Cần Thơ sẽ được chứng kiến giây phút ĺa đời cảu người anh hùng Hồ Ngọc Cẩn . Bọn sói lang đă áp tải Người từ Chương Thiện về Cần Thơ.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn bị giải lên chỗ hành h́nh, mấy tên khăn rằn hung hăng gh́m súng bao quanh.Trước khi bắn Người, tên ch́ huy cho phép Người được nói . Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái : ‘’ Tôi chỉ có một ḿnh , không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi cin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối ‘’. Dĩ nhiên lời yêu cầu này không được thỏa măn.Trong giây phút cuối cùng, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đă dỏng dạc hét lớn : ‘’ Việt Nam Cộng Ḥa Muôn Năm ! Đả đảo cộng sản !’’. Năm sáu tên việt cộng nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét mọi rợ và đánh đấm người anh hùng tàn nhẩn.Có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Nhiểu tên việt cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đi.
Cùng ngẩng cao đầu đi vào chiến sử Việt Nam với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ là người anh hùng Thiếu Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng quận Kiến Thiện, bạn đồng khóa với Đại Tá Cẩn.
Trích từ tài liệu [11] :
Ngay khi Cẩn bị bắt, giặc cộng để Cẩn lên một chiếc xe mui trần, chở đi khắp thành phố Chương Thiện cho dân chúng xem chiến lợi phẩm. Ngồi trên xe, Cẩn thản nhiên mỉm cười, vẫy tay chào dân chúng. Cái gọi là ṭa án nhân dân được lập ngay trước ṭa hành chánh. Sau khi quan ṭa kết tội Cẩn bằng những từ ngữ hiếm hoi thấy trong các đạo luật trên thế giới. Người ta kêu gọi dân chúng, ai là nạn nhân của Cẩn th́ đứng lên tố cáo, rồi muốn đánh, muốn chửi tùy thích. Nhưng chỉ có vài tên cán bộ nằm vùng nội thành tố cáo Cẩn là ác ôn có nợ máu. Dân chúng không có ai lên tiếng cả. Người ta hỏi : Những ai đồng ư xử tử Cẩn th́ dơ tay lên ! Lại cũng chẳng có ai dơ tay. Thế là cuộc xử án ngừng lại.
Rồi, ba tuần sau, cuộc xử án Cẩn lại diễn ra ở sân vận động thể thao Cần Thơ. Lần này người ta chuẩn bị kỹ hơn, người ta cho tụi ḅ vàng (công an) xen lẫn với dân chúng. Cũng bản cũ soạn lại, nhưng người ta khôn khéo hơn, người ta không hỏi xem Cẩn đă nợ máu với ai, th́ hăy ra mà xỉ vả, đánh đập. Người ta chỉ hỏi : Ai đồng ư xử tử Cẩn th́ giơ tay. Ḅ vàng dơ tay, một số dân chúng giơ tay. Số đông vẫn cứng đầu, không giơ tay.
Người ta hỏi Cẩn có nhận những tội mà ṭa án nêu ra không ? Cẩn cười nhạt :
« Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt ».
Rồi Cẩn hô:
« Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm »
Sau khi Cẩn bị bắn chết, dân chúng hiện diện khóc như mưa như gió. Trời tháng năm, đang nắng chói chang, tự nhiên sấm chớp nổ rung động không gian, rồi một trận mưa như trút xuống.
Nắng mưa là hiện tượng b́nh thường của trời đất. Nhưng dân chúng Cần Thơ th́ cho rằng, trời khóc thương cho người anh hùng, gặp cơn sóng gió của đất nước.
Trích từ tài liệu [12] :

H́nh tóa án nhân dân cộng sản xử Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn- Trích từ tài liệu [12]
Tôi măi nhớ không bao giờ quên ngày xử bắn ông Hồ Ngọc Cẩn. Mới tờ mờ sáng loa phóng thanh Cần Thơ kêu gọi mỗi gia đ́nh phải đi 2 người mít tin nhưng không ai biết đi làm cái tṛ trống ǵ, chỉ biết theo sự hướng dẫn của Ḅ Vàng công an Phường đến sân banh Quang Trung Cần Thơ.Trong lúc đó chúng tôi thấy một chiếc xe jeep chạy đến, trên xe có một người bị trói hai tay phía sau, cổ đeo dây chuổi tràng hạt của người Công Giáo hai chân bị khoá dây xích. Nhưng không ai biết ông là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn,
Khi vào sân banh th́ dân chúng không vào hết, chỉ đứng lây quây trước cổng và cạnh sân banh dọc theo đường Quang Trung, dân chúng dự định bỏ về nhà th́ họ tuyên bố xử ông Đại Tá Tỉnh Trưởng Chương Thiện th́ dân chúng lại đổi ư, có người muốn biết ai là Tỉnh Trưởng Chương Thiện, riêng tôi muốn biết họ đang làm ǵ, cả đám đông chen nhau ùa vào, thấy t́nh h́nh không ổn họ đóng cổng sân banh lại, nhưng dân chúng lại leo vách tường dọc đường Quang Trung tràn vào đông nghẹt sân banh.
Trước khán đài họ treo biểu ngữ Toà Án Nhân Dân, nhưng khi bắt đầu xử th́ họ kéo biểu ngữ Toà Án Nhân Dân xuống mới ḷi biểu ngữ Toà Án Quân Sự, thiệt là tráo trỡ ngay ban ngày giữa chốn ngàn người. Khi xử Ông Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn chẳng khác ǵ người Do Thái xử Chúa Giêsu cách đây hơn 2000 năm. Ông Hồ Ngọc Cẩn đứng chính giữa, bên phải là Đai Uư Chiêu Hồi, bên trái là mội người ăn trộm tại Cần Thơ ba người đều bị bịt mắt. Khi họ kể hết tội lỗi nơi này sang tội lỗi nơi kia trực tiếp hay gián tiếp ông đă giết bao nhiêu ngàn chiến sĩ yêu nước và buộc Ông nhận tội.
Họ lại cho một người Cách Mạng Miền Nam (Sic , tên này là việt cộng nằm vùng) đem micro phone cho Ông trả lời. Ông rất b́nh tỉnh, nét mặt tươi vui không lộ vẽ hằn thù oán ghét, Anh Dũng hiên ngang trả lời chậm rơ từng chữ. CÁC ANH CÓ CHÍNH NGHĨA CỦA CÁC ANH, CHÚNG TÔI CÓ CHÍNH NGHĨA CỦA CHÚNG TÔI. V̀ CHÍNH NGHĨA BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG TH̀ KHÔNG CÓ TỘI. Nên nhớ lúc đó họ để loa phóng thanh toàn Thành Phố Cần Thơ ai cũng nghe Ông Hồ Ngọc Cẩn trả lời. Thấy không ổn họ liền thay kế hoạch không cho Ông trả lời và tuyên án kết tội xử tử. Trước khi xử bắn họ hỏi cả ba người có muốn ǵ không? Người ăn trộm chỉ khóc lu bù. Ông Đại Uư Chiêu Hồi xin được về quê chôn cất tại Huyện Cờ Đỏ, họ chấp thuận. C̣n Ông Cẩn xin Được Mở khăn bịt Mắt, họ lại hỏi tại sao ông muốn như vậy.
Ông Hồ Ngọc Cẩn trả lời: TÔI MUỐN NH̀N THẤY ĐỒNG BÀO CỦA TÔI TRƯỚC KHI CHẾT.
Một người Cách Mạng Miền Nam (việt cộng ) đội nón Tay Bèo đứng gần được lệnh mở khăn che mắt Ông Hồ Ngọc Cẩn. Lúc đó chỉ có những người ở hàng đẩu trong đó có tôi là nhân chứng mọi người ngồi bẹp xuống đất cách khoảng 6-8 mét mới nghe Ông Cẩn và người Đại Uư Chiêu Hồi nói lời cuối cùng.
Đại Tá Cẩn bị giải lên chỗ hành h́nh, mấy tên khăn rằn hung hăng gh́m súng bao quanh người chiến sĩ. Trước khi bắn người, tên chỉ huy cho phép người được nói. Đại Tá Cẩn trong chiếc áo tù vẫn hiên ngang để lại cho lịch sử lời khẳng khái: “Tôi chỉ có một ḿnh, không mang vũ khí, tôi không đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được mặc quân phục và chào lá quốc kỳ của tôi lần cuối”. Dĩ nhiên lời yêu cầu không được thỏa măn. Đại Tá Cẩn c̣n muốn nói thêm những lời trối trăn hào hùng nữa, nhưng người đă bị mấy tên khăn rằn nón cối xông lên đè người xuống và bịt miệng lại. Tên chỉ huy ra lệnh hành quyết người anh hùng. Điều duy nhất mà bọn chúng thỏa măn cho người là không bịt mắt, để người nh́n thẳng vào những họng súng thù, nh́n lần cuối quốc dân đồng bào. Rồi người ngạo nghễ ra đi.
Khi tràng súng thứ nhất Ông Hồ Ngọc Cẩn quỳ một gối, nhưng nét mặt vẫn tươi vui đưa ánh mắt nh́n quanh công chúng. Khi tràng súng thứ nh́ Ông Hồ Ngọc Cẩn quỳ hai gối, nét mặt Ông vẫn tươi vui nh́n Đồng Bào như một Anh Hùng Tử Đạo Hiên Ngang Trước Pháp Trường. Tràng súng thứ ba, có lẽ v́ mất máu nhiều và bị đói khát lâu ngày nên kiệt sức Ông gụt đầu xuống. Cuối cùng họ cho một phát ân huệ ngay đầu coi như mạng ông kết liễu từ đó. Ông Hồ Ngọc Cẩn măi măi là vị Anh Hùng trong ḷng người dân Cần Thơ và cả Miền Tây.
Khi loa phóng thanh tuyên bố Ông Hồ Ngọc Cẩn bị xử tử chết tại sân banh Quang Trung Tỉnh Cần Thơ. Ông Bảy Từ đến hỏi ư kiến Ông Khen Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Xứ Nhà Thờ Họ Đạo An Thạnh đồng ư cho Ông Bảy Từ là bà con quen biết với Ông Cẩn lên Nhà Thờ Giật Chuông Tử cho mọi người Công Giáo trong Xứ Đạo Đọc Kinh Cầu Nguyện cho Linh Hồn Ông Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn được sớm về Thiên Đàng theo nghi thức Công Giáo. Nhóm Ḅ Vàng (công an) Phường Hưng Lợi cho gọi ông Chủ Tịch Khen Hội Đồng Giáo Xứ Nhà Thờ An Thạnh đến đồn công an làm việc, nêu rơ lư do tại sao nhà thờ liên tục giật chuông không ngừng ngay sau khi trên loa tuyên bố Ông Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn chết. Ông Khen Hội Đồng Giáo Xứ Nhà Thờ An Thạnh trả lời cho họ biết đó là thông lệ, là luật đạo. Hễ ai là người Công Giáo mới qua đời đều được Giật Chuông Tử để cho mọi người trong Xứ Đạo cầu cho linh hồn đó được Chúa sớm rước về Thiên Đàng.
Đám công an, họ tức lắm nhưng họ lại sợ cả khối người Công Giáo nên bỏ qua. Sau khi xử bắn họ đem xác Ông Hồ Ngọc Cẩn liệng bên lề đường ngay Dị Tỳ Người Tàu (Nghĩa Trang) cạnh nhà máy lọc nước , trước Trung Tâm Nhập Ngũ Quân Khu 4,đường Mạc Tử Sanh sau ngày chiến thắng Miền Nam họ đổi thành đường 30 tháng tư, v́ đó là đường họ tiến vào có vài người tiếp quảng Tỉnh Cần Thơ. Họ kêu mấy người đàn ông thanh niên ở đó trong tổ Ông Khen đến chôn Ông Hồ Ngọc Cẩn. Nhưng khi ông Tổ Trưởng Khen và mấy anh thanh niên đến họ không cho đào sâu để chôn. Chỉ để xác ông Hồ Ngọc Cẩn ngay trên mặt đất, rồi đào đất xung quanh vừa phủ lấp lên xác Ông Hồ Ngọc Cẩn th́ mấy tên Ḅ Vàng (công an) Phường Hưng Lợi nói là xong, không cho phủ đất lên thêm nữa. Họ canh hai ngày đến ngày thứ ba th́ bắt đầu hôi thúi, mấy tên Ḅ Vàng (công an) Phường Hưng Lợi không c̣n canh nữa. Sáng sớm ngày thứ tư, dân chúng đi bộ ngang thấy đất bị bới ra và xác Ông Hồ Ngọc Cẩn không có ở đó. Ông Khen lại bị đám Ḅ Vàng (công an) cho mời đến đồn làm việc. Ông Khen giận dữ trả lời tay đôi với họ rằng. Giết Hồ Ngọc Cẩn là mấy ông giết, chôn cạn Hồ Ngọc Cẩn cũng mấy ông muốn, canh xác Hồ Ngọc Cẩn cũng mấy ông coi. Bây giờ xác Hồ Ngọc Cẩn biến mất là tại mấy ông không tôn trọng người chết để hôi thúi cả một vùng trời, th́ ai đó làm phước đem đi nơi khác chôn cất đàng hoàng, không c̣n hôi tanh cho dân chúng đi ngang không phải tránh né.
Dân địa phương đồn rầm lên Ông Hồ Ngọc Cẩn Sống lại và đi về Tỉnh Chương Thiện rồi. Đó là chuyện rất vui mừng cho bà con cô bác tại Cần Thơ khi nghe tin đồn về xác Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Sau vài ngày, dân lại đồn lính của Ông Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đă lén đem xác Ông Hồ Ngọc Cẩn chôn nơi nào đố ai biết? Mà dẫu có biết cũng chả ai thèm nói cho họ tức cũng chả làm ǵ nhau.
Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể có Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn về… và phủ cho một lá cờ Việt Nam Cộng Ḥa… mà cố Đại Tá đă suốt đời phục vụ cho lư tưởng của Việt Nam Cộng Hoà.
Tài liệu tham khảo :
1. https://baovecovang2012.wordpress.com/category/2-mot-thoi-de-nho/nguoi-linh-vnch/thieu-sinh-quan/ Sơ lược về Truyền Thống và Quá Tŕnh Thành Lập Thiếu Sinh Quân tại Việt Nam (CTSQ Hoàng Văn Vui ) -1999 - Posted on March 26, 2022 by Lê Thy - (nguồn: Lê Thy đánh máy từ bản scan của tạp chí Bắc Đẩu đăng trên http://geocities.com năm 2009) .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BA%BFu_sinh_qu%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
3. https://baovecovang2012.wordpress.com/2014/05/19/thieu-sinh-quan-vnch-thanh-dung/ THIẾU-SINH-QUÂN VNCH (Thanh Dũng) - Posted on May 19, 2014 by Lê Thy.
4. https://linhvnch.wordpress.com/thieu-sinh-quan-vnch/ TrườngThiếu Sinh Quân VNCH.
5. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa.
6. https://bienxua.wordpress.com/2017/04/25/thieu-sinh-quan-vung-tau-tran-danh-cuoi-cung-3041975/ Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu – Trận đánh cuối cùng 30/4/1975 - Posted by bienxua on April 25, 2017 .
7. https://www.namkyluctinh.org/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/thanh-dung/thieu-sinh-quan-viet-nam-cong-hoa.html Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Ḥa .
8. https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/chuy%E1%BB%87n-30-4/2846-h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-thi%E1%BA%BFu-sinh-qu%C3%A2n-vnch H́nh Ảnh Thiếu Sinh Quân VNCH - 10-10-2011 .
9. https://hon-viet.co.uk/NguyenAnhDungVaLamASang_TranDanhBiHungCuoiCungCuaTruongThieuSinhQuanVungTau.htm Trận Chiến Đấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4 1975 - CTSQ Nguyễn Anh Dũng và CTSQ Lâm A Sáng – Colorado Colorado 24/10/2002 .
10. Phạm Phong Dinh- Chiến Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Tủ Sách Vinh Danh Tháng 8-2007.
11. https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/01/24/vai-net-ve-mot-anh-hung-dai-ta-ho-ngoc-can-yen-tu-cu-si-tran-dai-sy/ Vài nét về một anh hùng: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (Yên-tử Cư-sĩ Trần Đại Sỹ) - Posted on January 24, 2013 by Lê Thy .
12. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/05/08/loi-ke-cua-mot-nhan-chung-viet-cong-xu-ban-dai-ta-ho-ngoc-can-quan-luc-vnch/ Lời kể của một nhân chứng: Việt cộng xử bắn Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Quân Lực VNCH - Posted on May 8, 2025 by dongsongcu .
21- Trường Quân Chính - Thủ Đức-Tỉnh Gia Định
Theo tài liệu [1] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.
Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu [2]),Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm có 8 quân trường trong đó có Trường Quân Chính.
Điều đáng tiếc là hai tài liệu trên không có ghi Trường Quân Chính (hay Quân Chánh) thuộc binh chủng nào và chương tŕnh huấn luyện ,đào tạo… của Trường. Xin các bậc thức giả bổ túc thêm-Xin đa tạ.
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức .
22- Trường Quân Cụ - Thủ Đức-Tỉnh Gia Định
Theo tài liệu [1] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay các lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.
Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu [2] ), Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm có 8 quân trường trong đó có Trường Quân Cụ .
Thời gian đào tạo sĩ quan Quân Cụ tại Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức là 38 tuần .
Từ năm 1955 đến năm 1961, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đă cung cấp 89% cán bộ Quân Cụ .
Tài liệu [3] viết về Cục Quân Cụ, chỉ ghi vỏn vẹn một hàng như sau : Ngành Quân Cụ chỉ c̣n nhiệm vụ thuần tuư về kỹ thuật.Trường Quân Cụ vẫn tiếp tục đào tạo chuyên viên trong ngành .
Theo tài liệu [4] : Trường Quân Cụ là một đơn vị trực thuộc Cục Quân Cụ .
Điều đáng tiếc là hai tài liệu [3] & [4] không có cung cấp các chi tiết về Trường Quân Cụ như địa điểm, tổ chức ,các môn kỹ thuật huấn luyện …Xin các bực thức giả bổ túc thêm-Xin đa tạ .
Dựa theo nội dung của các tài liệu [3] & [5] & [6] & [7] & [8] & [9] ,người ta có thể suy ra một cách tổng quát rằng :
Trường Quân Cụ có nhiệm vụ huấn luyện các môn kỹ thuật như tồn trử, cấp phát, sửa chữa, tân trang các chiến cụ như quân xa, chiến xa, trọng pháo, vũ khí , đạn dược, bom, ḿn và chất nổ…cho các cấp sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc binh chủng Quân Cụ và cả các nhân viên dân sự làm việc cho binh chủng này .
Ngoài ra theo tài liệu [10] : Người Nhái Trần Xuân Tin được gởi lên Trường Quân Cụ trong năm (5) tháng để học tháo gỡ chất nổ, đạn dược, bom, ḿn bẫy ở trên bờ. Các loại ḿn mà Người Nhái đă học qua đều thuộc loại nguy hiểm.
Để cho tài liệu được đầy đủ , xin tŕnh bày sau đây lược sử thành lập Cục Quân Cụ Việt Nam Cộng Ḥa trích từ các tài liệu [3] & [5] & [6] & [7] & [8] & [9]

Huy hiệu binh chủng Quân Cụ- H́nh trích từ tài liệu [5]
Khẩu hiệu : Chiến Cụ Tinh - Quân Nhuệ Khởi (tài liệu [3] )
Quân Cụ (1954-1975), là một đơn vị chuyên ngành của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, dưới sự điều hành hàng dọc của Tổng Cục Tiếp Vận trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Quân Cụ có nhiệm vụ tạo tác, phân phối và điều độ khí cụ các loại, quân xa, chiến xa, quân trang, quân dụng… cho các đơn vị trong quân đội theo nhu cầu. Đồng thời có trách nhiệm sửa chữa và đại tu tất cả phương tiện nêu trên.
Ngành Quân Cụ chính thức được thành lập từ tháng 8 năm 1954 trong Quân Đội Quốc Gia. Tính đến tháng 4 năm 1975, qua 2 lần đổi danh xưng của quân đội là Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa (1955) và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1965) , ngành Quân Cụ đă h́nh thành qua 3 giai đoạn :
1- Giai đoạn 1: Từ 1955 đến 1960
Theo tài liệu [6] : Đây là giai đoạn cải tổ.
Sau Hiệp định Genève 1954, Pháp rút lui. Những vật liệu của Pháp được chuyển giao cho Quân Đội Quốc Gia. Thành lập các đơn vị từ Trung Ương đến Địa Phương để phù hợp nhu cầu chiến trường và sự lớn mạnh của quân đội.
Theo tài liệu [11] : Khoảng cuối tháng 8 năm 1955, một đơn vị thuộc binh chủng Quân Cụ đă đến căn cứ Phú Lợi ở tỉnh lỵ Thủ Đầu Một, để gỡ hết những băi ḿn do người Pháp đă gài từ trước , căn cứ vào những sơ đồ các băi ḿn để lại trong hồ sơ pḥng thủ của trại.
Năm 1957, được đặt danh hiệu là Nha Quân Cụ, trách nhiệm điều hành là Giám Đốc trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu.
2- Giai đoạn 2: Từ 1961 đến 1973
Theo tài liệu [6] : Đây là giai đoạn phát triển và kiện toàn .
Song song với sự tăng trưởng của quân lực, ngành Quân Cụ được phát triển mạnh từ tổ chức đến nhân lực.Năm 1964, Nha Quân Cụ được cải danh thành Cục Quân Cụ và chức danh điều hành là Cục Trưởng trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận.
Theo tài liệu [12] : Trên đoạn đường Trần Quốc Toản từ công trường Dân Chủ đi về hướng ngả ba Petrus Kư, phía tay trái kho dự trữ gạo và lương thực quân đội Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH ) gọi là Quân Tiếp Vụ , nh́n đối diện qua là xưởng sửa chữa của quân đội VNCH c̣n gọi là Căn Cứ 40 Quân Cụ và nối tiếp là Cục Quân Cụ. Khu trại quân cụ (khu cư xá Nguyễn Trung Trực) nằm bên phải chợ cá Trần Quốc Toản.

Đường Trần Quốc Toản ,nh́n về
phía công trường Dân Chủ ,thấp thoáng bên phài h́nh là
chateau d'eau bằng bê tông và phía trái là Cục Quân Cụ - H́nh
trích từ tài liệu [12]
Ngoài ra trên khúc đường Lê Văn Duyệt giữa công trường Dân Chủ và Quân vụ Thị Trấn có Trại Lê Lợi. Trại này theo tài liệu [13] là của ngành Quân Cụ.Trong khi đó theo tài liệu [14] : Trại Lê Lợi thuộc quân chủng Công Binh

Trại Lê Lợi bên trái h́nh năm 1968 - Photo by Ivan Bunn
Cho đến cuối giai đoạn hai, năm 1973, từ các đơn vị cấp đại đội, cao nhất là tiểu đoàn lúc ban đầu, đến thời điểm này, tại trung ương đă có 3 căn cứ : Căn Cứ 20 tồn trữ quân dụng, Căn Cứ 50 tồn trữ đạn dược, và Căn Cứ 80 Tân Trang sửa chữa cấp 5.
Theo tài liệu [8] : Căn Cứ 80 Tân Trang Quân Cụ (c̣n có tên là Trại Quân Cụ Đoàn Dư Khương ) nằm trên một khu rất lớn, trải dài từ kho đạn G̣ Vấp, qua tới thành quân nhu, quân cụ, truyền tin, công binh, trại thiết giáp, ở An Nhơn, Thông Tây Hội, đến khu quận Hốc Môn.
Theo tài liệu [15] : Chỉ trong đoạn đường hơn một cây số, đi từ trại Quân Cụ, c̣n có Trại
Truyền Tin, Quân Nhu, Quân Trang là gặp ngă ba. Nếu rẽ trái là đến Thành Cổ Loa, Khu Thiết Giáp, và rẽ phải gặp ngă năm là Kho Đạn, Trại Quân Khuyển mà dân địa phương gọi là Ngă Năm Chuồng Chó. Hướng ngược đi vài trăm mét là Ngă ba Thông Tây. Rẽ phải đi lên Xóm Mới, c̣n rẽ trái đi thêm sẽ gặp Nhà Thờ Hạnh Thông Tây, đi nữa sẽ thấy Nghĩa Trang Quân Đội G̣ Vấp cạnh Làng Trẻ Mồ Côi SOS. Nếu cứ đi tiếp lên Chợ Cầu, Trung Chánh và đến Quân Trường Quang Trung.
Dựa vào tài liệu [16] : Căn Cứ Quân Cụ 80 phải có trước năm 1968 bởi v́ vào ngay trong đêm Mồng Một Tết (30 tháng một ) năm Mậu Thân 1968, tại khu vực G̣ Vấp,bọn việt cộng đă bắn quấy phá căn cứ này.
Theo tài liệu liệu [8] & [9] : Năm 1969, Căn Cứ 80 Tân Trang Quân Cụ được đổi tên thành Lục Quân Công Xưởng. Từ đó tất cả những quân cụ, chiến xa, thiết giáp, súng lớn, nhỏ, kể cả những viễn vọng kính, hỏa tiễn… đều được sửa chữa, tân trang tại đây.
Tất cả vũ khí, quân cụ từ vĩ tuyến 17 trở vô trong miền Nam đều được tập trung về Lục Quân Công Xưởng để tu bổ, xong gởi trở ra chiến trường. Do đó, có thể nói, Lục Quân Công Xưởng là một quân xưởng lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ với hơn 5,000 dân quân cán chánh làm việc, trong đó có cả những quân nhân tại ngũ, những người có tay nghề kỹ thuật cao, như học sinh các trường kỹ thuật Cao Thắng ở Sài G̣n, trường kỹ thuật Đồng Đế cũng được tuyển dụng.
Ngay từ khi được thành lập, Lục Quân Công Xưởng phải lo cho hơn 2 triệu súng cầm tay, 1,200 xe chạy xích kể cả thiết giáp loại M48, hơn 1,000 đại bác 105 đến 175 ly cơ động, 40,000 xe chạy bánh…
Để đáp ứng được nhu cầu công tác như vậy, vào những năm đầu thập niên 1960, Bộ Quốc Pḥng đă cho tuyển dụng các kỹ sư, chuyên viên dân sự nên những lớp học sinh tốt nghiệp trung học Cao Thắng và các kỹ sư tốt nghiệp đại học Bách Khoa Phú Thọ đă gia nhập rất đông, cho đến khi có các chương tŕnh động viên th́ có dân sự tham gia v́ thanh niên tốt nghiệp hai trường này đều trong tuổi nhập ngũ.
Từ đó, Lục Quân Công Xưởng được Bộ Quốc Pḥng cho những sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ từng theo học ở các trường kỹ thuật được thuyên chuyển về làm việc nên trong các ban ngành, số quân nhân rất đông. Bên cạnh đó, các nhân viên dân sự lớn tuổi có kinh nghiệm và tay nghề vững chắc từng phục vụ lâu năm vẫn được giữ lại điều hành công việc. Do đó mới có các loại nhân viên được gọi là “áo trắng,” “áo xanh,” “áo vàng.” Nhưng chẳng có ai phân biệt quân hay dân sự mà có chăng chỉ là tŕnh độ kỹ thuật và tay nghề cao mà thôi, từ đó mới phát sinh t́nh cảm gia đ́nh thương yêu và giúp đỡ nhau để công việc được hoàn thành tốt đẹp, và cùng xem nhau như một đại gia đ́nh Lục Quân Công Xưởng VNCH.

Lục Quân Công Xưởng (hậu thân của Căn cứ 80) -Từ trái qua phải : Đại Tá Huỳnh Thu Toàn - Chỉ Huy Trưởng LQCX,Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm,Trung Tướng Đồng Văn Khuyên - Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận,Đại Tá Từ Nguyên Quang - Cục Trưởng Quân Cụ - H́nh trích từ tài liệu [17]

Huy hiệu kim khí nguyên thủy Lục Quân Công Xưởng - Kỷ niệm ngày khánh thành L.Q.C.X. năm 1971 - H́nh trích từ tài liệu [17]

Phù hiệu nguyên thủy Lục Quân Công Xưởng (1971-1975) - H́nh trích từ tài liệu [17]

Đại Tá Huỳnh Thu Toàn, Giám Đốc Lục Quân Công Xưởng (1971-1975) - H́nh trích từ tài liệu [17]

H́nh lưu niệm chụp tại Bộ Chỉ Huy Căn Cứ 80 Tân Trang Quân Cụ - H́nh trích từ tài liệu [17]
3- Giai đoạn 3: Từ 1973 đến 4/1975.
Theo tài liệu [4] & [6] : Đây là giai đoạn tổ chức điều hành theo hệ thống tiếp vận của quân lực Hoa Kỳ.
Với một sự cải tổ tiếp vận toàn diện ,Tổng Cục Tiếp Vận được thành lập nhằm mục đích phối, kết hợp các ngành tiếp vận: (Quân Cụ, Công Binh, Quân Y, Truyền Tin, Quân Nhu…) vào thành một đơn vị duy nhất để các binh đoàn chỉ đến một nơi nhận lănh hàng tiếp liệu.
Tổng Cục Tiếp Vận vừa là cơ quan tham mưu của Bộ Tổng Tham Mưu, vừa là cơ quan chỉ huy các ngành Quân Cụ, Quân Nhu, Quân Vận, Quân Y, Quân Tiếp Vụ, Truyền Tin, Công Binh, Măi Dịch, Trường Tiếp Vận, Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân, Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận.
Tại các Vùng Chiến Thuật (Quân Khu) có một hoặc hai Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận để yểm trợ các binh đoàn tham chiến nhanh chóng và hữu hiệu.
Trải đều trên các Vùng Chiến Thuật đă có : 5 liên đoàn yểm trợ Quân Cụ, 5 tiểu đoàn trung hạng sửa chữa cấp 4, 25 đại đội yểm trợ diện địa và 13 đại đội quân cụ sư đoàn, năm liên đoàn đạn dược và 20 kho đạn.
Quân số ngành Quân Cụ đến giai đoạn này ước lượng trên dưới 16,000 người, gồm quân nhân và dân chính quốc pḥng để yểm trợ cho 1 triệu quân bao gồm chủ lực quân, địa phương quân, nghĩa quân và các đơn vị bán quân sự, với nhiệm vụ tồn trữ, cấp phát, sửa chữa từ cấp 3 đến cấp 5, tân trang các loại quân dụng gồm quân xa, chiến xa, vũ khí và trọng pháo các loại, đồng thời tồn trữ các cấp đạn dược, bom, ḿn và chất nổ.
Theo tài liệu [4] :
Hệ thống sửa chữa quân dụng có 5 cấp :
- Cấp 1 : Người sử dụng trách nhiệm (tức tài xế);
- Cấp 2 : Cơ xưỡng của đơn vị trách nhiệm;
- Cấp 3 và 4: các Trung Tâm Bảo Toàn Trung Hạng trực thuộc các Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận trách nhiệm;
- Cấp 5 hay tân trang: Lục Quân Công Xưởng, Căn Cứ 40 Công Binh, Căn Cứ 60 Truyền Tin, trách nhiệm.
Coi như ngành Quân Cụ cung cấp phương tiện chính yếu cho người lính tác chiến ngoài chiến trường.
Thời điểm này ngành Quân Cụ chỉ c̣n nhiệm vụ thuần tuư về kỹ thuật. Trường Quân cụ vẫn tiếp tục đào tạo chuyên viên trong ngành.
Theo tài liệu [6] & [7] : Với phương châm “Chiến Cụ Tinh, Quân Nhuệ Khởi” , ngành Quân Cụ trong suốt chiều dài cuộc chiến đă yểm trợ hiện hữu cho QLVNCH, góp phần tạo nên những chiến thắng lẫy lừng đi vào quân sử, trong đó có máu và mồ hôi nước mắt của các chiến sĩ Quân Cụ theo sát yểm trợ tiền tuyến như các trung đội sửa chữa lưu động, các toán sửa chữa xe xích, các toán sửa chữa trọng pháo, các toán tháo gỡ và phá hủy đạn dược.
Tất cả đă hoàn thành nhiệm vụ được giao phó một cách xuất sắc. V́ vậy, toàn thể quân, dân chính ngành Quân Cụ không hổ thẹn với lương tâm, quân đội và tổ quốc.

Thiệp chúc Tết của Cục Quân Cụ Quân Lực VNCH- H́nh trích từ tài liệu [18]
Giám đốc, Cục trưởng qua các thời kỳ theo tài liệu [3] :
1- Lê Văn Sâm -Vơ Bị Huế K2-Đại tá-Giám đốc-Tại chức : 1957-1961 - Giải ngũ cùng cấp ;
2- Đỗ Ngọc Nhận-Vơ Bị Đà Lạt K3- Đại tá-Giám đốc-Tại chức :1961-1964-Sau cùng là Tổng cục phó Tổng cục Quân huấn;
3- Trần Văn Trọng (Nhạc sĩ Anh Việt) -Vơ Khoa Thủ Đức K1- Đại tá-Cục trưởng- Tại chức : 1964-1970-Sau cùng là Trưởng pḥng Điều nghiên thuộc Bộ Quốc pḥng;
4- Từ Nguyên Quang-Vơ Bị Đà Lạt K3- Đại tá-Cục trưởng- Tại chức :1970-1975.
Xin ghi vài hàng về Đại Tá Trần Văn Trọng trích từ tài liệu [19]
Đại tá Trần Văn Trọng (1927-2008), sinh quán ở Rạch Giá trong một gia đ́nh công chức mà song thân yêu thích cổ nhạc và hay làm thơ .
Năm 1945, ông Trần Văn Trọng tham gia kháng chiến chống Pháp và rời bỏ chiến khu vào năm 1950. Năm 1951, ông tham gia quân đội quốc gia Việt Nam, nhập ngũ khoá 1 sĩ quan Thủ Đức, theo học ngành quân cụ. Ông dấn thân vào binh nghiệp cho đến ngày mất nước và là Cục trưởng cục quân cụ với cấp bậc đại tá thuộc quân lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Đại tá Trần Văn Trọng – H́nh trích từ tài liệu [19]
Tháng 4 năm 1975, ông theo làn sóng di tản rời quê hương và định cư ở California, Hoa-Kỳ. Trên đất mới, ông được mời dạy ở trường Naval Post Graduate tại Monterey. Về sau, ông thành lập siêu thị Mekong để cung cấp cho đồng hương những thực phẩm mang hương vị quê nhà. Đây là cửa hàng tạp hóa và gian hàng ăn uống đầu tiên của người Việt-Nam tị nạn tại địa phương.
Bên cạnh cuộc đời binh nghiệp, Đại tá Trần Văn Trọng c̣n là một nhạc sĩ ,tên nghệ sĩ Anh Việt hoạt động văn nghệ sôi nổi ở đài phát thanh Pháp Á với chương tŕnh “Nhạc t́nh”, chương tŕnh “Nhạc quê hương” ở đài phát thanh Quân Đội, chương tŕnh “Hương thời gian” ở đài phát thanh Sài-G̣n và trên đài truyền h́nh số 9 với chương rŕnh “Nhạc thính pḥng Jazz Symphonic” cùng sự cộng tác của các nhạc sĩ Hoàng Nguyên, Nguyễn Hậu, Nhật Bằng, v.v.. cũng như nhiều giọng hát tên tuổi thời bấy giờ như Mai Hương , Anh Ngọc, Sĩ Phú, Thanh Lan, v..v..
Nhắc đến Anh Việt, giới thưởng ngoạn thường nhớ đến những nhạc phẩm lừng danh như “Bến Kiên-Giang”, “Chiều trong rừng thẳm”, ‘Một chuyến đi”, “Bến cũ”, “Lỡ chuyến đ̣”, “Thơ ngây”, v.v..

Nhạc sĩ Anh Việt - H́nh trích từ tài liệu [19]

Nhạc phẩm “Thơ ngây” được thu thanh lần đầu tiên với tiếng hát Bích Thủy và ban nhạc Vơ Đức Thu (Dĩa hát Philips 57.094 – Ind. 910) - H́nh trích từ tài liệu [19]
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_c%E1%BB%A5_(Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a) Cục Quân Cụ Việt Nam Cộng Ḥa .
4. http://batkhuat.net/tl-qlvnch.htm Trường Bộ Binh Thủ Đức- Khóa 8B +C/72 Bất Khuất – Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Phụ Bản A.
5. https://linhvnch.wordpress.com/nganh-quan-cu-vnch/ Ngành Quân Cụ VNCH .
6. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/Quan-Cu-VNCH-ky-niem-60-nam-thanh-lap-1939/ Quân Cụ VNCH Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập - Last update: September 2, 2014 - Lâm Hoài Thạch/Người Việt .
7. https://vietbao.com/a226417/hoi-ai-huu-quan-cu-quan-luc-viet-nam-cong-hoa-nam-cali-hop-mat-ky-niem-60-nam-thanh-lap-binh-chung-quan-cu Hội Ái Hữu Quân Cụ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Nam Cali: Họp Mặt Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Binh Chủng Quân Cụ .
8. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/gia-dinh-luc-quan-cong-xuong-hoi-ngo-thuong-nien/ Gia Đ́nh Lục Quân Công Xưởng Hội Ngộ Thường Niên - Last update:July 9, 2016 .
9. https://www.facebook.com/hauduevnch/posts/vinh-danh-l%E1%BB%A5c-qu%C3%A2n-c%C3%B4ng-x%C6%B0%E1%BB%9Fng-qlvnchl%E1%BB%A5c-qu%C3%A2n-c%C3%B4ng-x%C6%B0%E1%BB%9Fng-l%C3%A0-m%E1%BB%99t-l%E1%BB%B1c-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-c%C6%A1-h%E1%BB%AFu-/874073766400794/ Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại - Republic Of VietNam Next Generations a ajouté des photos à l’album : Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa - 4 mai 2020 -Vinh Danh Lục Quân Công Xưởng QLVNCH - HD Lê Duy Đài -Montreal 2 .
10. https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/58611-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-nh%C3%A1i-tr%E1%BA%A7n-xu%C3%A2n-tin-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BA%B7c-bi%E1%BB%87t-ch%C6%B0a-th%E1%BB%91-l%E1%BB%99 Người Nhái Trần Xuân Tin và những công tác đặc biệt chưa thố lộ - Lâm Hoài Thạch - 06-28-2023 .
11. https://dongsongcu.wordpress.com/2023/07/23/truongphao-binh-nhung-ngay-dau-nguyen-my-quang/ ḍng sông cũ Trường Pháo Binh , Những Ngày Đầu… – Nguyễn Mỹ Quang -Posted on July 23,2023 by dongsongcu .
12. https://thaolqd.blogspot.com/2014/10/mot-vai-con-uong-cua-ky-uc-uong-tran.html Lê Qúy Đôn Khung Trời Kỷ Niệm và những Kư Ức về Sài g̣n - Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014 -Đường Pavie- Đường Trần Quốc Toản .
13. https://nhacxua.vn/duong-le-van-duyet-cmt8-con-duong-bi-doi-ten-nhieu-nhat-sai-gon/ Đường Lê Văn Duyệt/CMT8 – Con đường bị đổi tên nhiều nhất Sàig̣n 2024/05/18 .
14. https://www.facebook.com/NguoiNhapCuoc1975/photos/a.145349756130632/665829817415954/?_rdr .
15. https://www.ngo-quyen.org/p41a9964/55/kim-loan-mien-nam-yeu-dau Kim Loan-Miền Nam Yêu Dấu .
16. Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa của việt cộng Mậu Thân 1968-Khối Quân Sử- Pḥng 5- Bộ Tổng Tham Mưu-Tháng 8, năm 1968 .
17. https://www.facebook.com/groups/miennamvietnam/posts/2739066459666238/ Miền Nam Việt Nam- Từ Quang Minh- 16 avril 2020 -Lục Quân Công Xưởng-Căn Cứ 80.
18. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ-62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm .
19. Vưu Văn Tâm-Nhạc sĩ Anh Việt bồi hồi từng nét thơ ngây- TV, 16.03.2026 .
23- Trường Thiết Giáp - Kỵ Binh – Thủ Đức-Tỉnh Gia Định
Theo tài liệu [1] : Trường Thiết Giáp - Kỵ Binh được thành lập vào năm 1957 ,trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ huấn luyện về chuyên môn cho quân nhân các cấp thuộc Binh Chủng Thiết Gip Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Tài liệu này ghi Trường Thiết Giáp - Kỵ Binh tọa lạc tại Thủ Đức nhưng không có cung cấp địa điểm quân trường.
Theo tài liệu [2] & [3] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay các lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.
Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu [4] ), Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm có 8 quân trường trong đó có Trường Thiết Giáp .
Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tọa lạc trên khu đồi Tăng Nhơn Phú, cách chợ Thủ Đức khoảng hai cây số , cách thủ đô Sàig̣n 18 cây số về hướng Đông Bắc.(Xem thêm chi tiết trong bài Trường Bộ Binh Thủ Đức của cùng tác giả) .
Từ năm 1955 đến năm 1961, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đă cung cấp 95% cán bộ Thiết Giáp và Truyền Tin.
Theo tài liệu [5] : Năm 1961, Trường Thiết giáp nằm trong Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức có nhiệm vụ huấn luyện xử dụng chiến xa M 113.
Theo tài liệu [6] : Tháng 10 năm 1961, do sự bành trướng chiến tranh xâm lăng của bọn cộng sản Bắc Việt gây ra, t́nh trạng đất nước ở vào giai đoạn khẩn trương. Nhiều trận chiến bùng nổ trên toàn lănh thổ Miền Nam. Nhu cầu cán bộ chỉ huy để cung ứng cho chiến trường lại gia tăng, v́ thế các quân trường chuyên môn được tách khỏi Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, ngoại trừ hai trường Bộ Binh và Thiết Giáp, để lấy chỗ huấn luyện số thanh niên đông đảo được động viên trong một chương tŕnh đại quy mô. V́ vậy, Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức chỉ c̣n 3 trường là Bộ Binh, Thiết Giáp, Vũ Thuật, và Thể Dục Quân Sự.
Và theo tài liệu [7] : Vào năm 1966, trường Bộ Binh Thủ Đức chỉ c̣n lại trường Vơ Thuật và Thiết Giáp. Chiều chiều sinh viên sĩ quan thường kéo nhau xuống khu gia binh Thiết Giáp kiếm chè cháo hay những bữa cơm canh chua, cá thịt kho hoặc anh nào muốn “dù” sẽ chui qua ”khe sanh” nhẩy xe Lam về Sàig̣n lỡ “dù không bọc” lộn trở lại cũng “an toàn” coi như dạo mát.
Phía trước bộ chỉ huy trường, chiếc thiết giáp đặt trên bệ xi-măng nằm nghiêng dăi dầu mưa nắng ngày đêm như thân phận người lính chiến. Điều lạ mắt là chiếc béret đen trên đầu Thiết Giáp xếp ngược lại so với Bộ Binh.

Huy hiệu Trường Thiết Giáp - Kỵ Binh – H́nh trích từ tài liệu [8] & [9]
Các Vị Chỉ Huy Trưởng Trường Thiết Giáp Kể Từ Ngày Thành Lập , trích từ tài liệu [8] & [10] & [11]
1 Hoàng Đôn Thận - Vơ Bị Đà Lạt K5 -Thiếu Tá-Tại nhiệm :1955-1956-Giải ngủ ở cấp Thiếu Tá;
2 Trần Văn Ái- Thiếu Tá-Tại nhiệm :1956- Giải ngũ ở cấp Trung Tá;
3 Nguyễn Duy Hinh -Vơ Khoa Nam Định-Đại Úy-Tại nhiệm : 1956-1957-Sau cùng là Thỉếu Tướng;
4 Lương Bùi Tùng- Đại Úy- Tại nhiệm :1957-1959-Sau cùng là Đại Tá;
5 Vĩnh Lộc - Vơ Bị Lục Quân Pháp-Thiếu tá- Tại nhiệm :1959-1961-Sau cùng là Trung Tướng;
6 Dương Văn Đô -Vơ Khoa Nam Định-Đại Úy- Tại nhiệm : 1961-1963-Sau cùng là Đại Tá ;
7 Nguyễn Văn Toàn -Thiếu Tá- Tại nhiệm : 1963-1964-Sau cùng là Trung Tướng;
8 Lâm Quang Thơ -Vơ Bị Đà Lạt K3-Trung Tá- Tại nhiệm : 1964-1965-Sau cùng là Thiếu Tướng ;
9 Nguyễn Tuấn- Vơ Khoa Thủ Đức K1- Trung Tá- Tại nhiệm : 1965-1968-Toàn gia đ́nh Trung Tá Nguyễn Tuấn bị việt cộng sát hại vào Tết Mậu Thân (trừ một người con trai), Trung Tá Nguyễn Tuấn được truy thăng cấp Đại Tá. Người con trai c̣n sống là Nguyễn Từ Huấn sau 1975 theo chú ruột là Đại Tá Nguyễn Tú di tản sang Hoa Kỳ tỵ nạn cộng sản. Đến tuổi thành niên, ông Nguyễn Từ Huấn gia nhập Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, năm 2019 được vinh thăng Phó Đề Đốc (Chuẩn Tướng) Hải quân Hoa Kỳ. Xem thêm chi tiết trong Phụ đề ở cuối bài;
10 Nguyễn Quang Nguyên-Vơ Khoa Nam Định- Trung Tá-Tại nhiệm :1968-1969-Sau cùng là Trung Tá;
11 Trần Tín- Trung Tá- Tại nhiệm : 1969-1972-Sau cùng là Đại Tá;
12 Trần Văn Tỷ- Vơ Bị Đà Lạt K10-Đại tá- Tại nhiệm :1972-1973;
13 Huỳnh Văn Tám- Tại nhiệm :1973-1975.
Trường Thiết Giáp - Kỵ Binh là một đơn vị căn bản của Binh Chủng Thiết Giáp - Kỵ Binh, v́ vậy để cho tài liệu được đầy đủ và mạch lạc, xin ghi thêm sau đây lược sử thành lập của Binh Chủng này .
Binh Chủng
Thiết Giáp Kỵ Binh Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) (tiếng Anh:
Vietnamese Armored Cavalry Corp, VNACC)- c̣n gọi là Thiết Kỵ
- trực thuộc Quân
Lực Việt Nam Cộng Ḥa, là lực lượng xung
kích tác chiến và cơ động trên các chiến trường
với hỏa lực mạnh. Thường xuyên phối hợp
với các đơn vị Bộ
Binh, Nhảy Dù,
Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân để giải quyết nhanh chóng trận
chiến theo chiến thuật "Bộ Binh Tùng Thiết".
Luôn luôn là một trong các thành phần tham gia những cuộc
hành quân quy mô lớn (trong đó bao gồm cả thành phần
Hải, Lục, Không Quân và Pháo Binh. Trong quá tŕnh hoạt
động, binh chủng Thiết Kỵ đă được
mệnh danh là “Vua chiến trường”.

Quân kỳ Binh Chủng Thiết Giáp Kỵ Binh-H́nh trích từ tài liệu [11] & [12]
Thánh Tổ của Binh Chủng Thiết Giáp Kỵ Binh là Thánh Gióng (tức Phù Đổng Thiên Vương).

Ngă sáu Phù Đổng là giao điểm của sáu con đường gồm,Gia Long, Phạm Hồng Thái, Phan Văn Hùm, Ngô Tùng Châu, Lê Văn Duyệt và Vơ Tánh -Nguyễn Trăi -H́nh trích từ tài liệu [13] & [14]
Từ năm 1967 th́ bùng binh này mới được gọi là Ngă 6 Phù Đổng, c̣n trước đó thường được gọi là Ngă 6 Sài G̣n, là 1 trong số ít ngă 6 của đô thành thời đó. Tên gọi này xuất phát từ tượng đài nhân vật huyền thoại Thánh Gióng (tức Phù Đổng Thiên Vương) đang cưỡi ngựa, tay nắm thân tre, được binh chủng Thiết giáp dựng lên năm 1967 (Thánh Gióng được coi là Thánh Tổ của binh chủng này).
Khẩu Hiệu thức của binh chủng : Mau- Mạnh .
Bài ca chính thức của binh chủng : Thiết Giáp Binh Hành Khúc .


Thiết Giáp Binh Hành Khúc trích từ tài liệu [15]
Theo tài liệu [12] :
Năm 1950, Chính phủ Quốc Gia Việt Nam thành lập Quân đội Quốc Gia Việt Nam.
Theo tài liệu [5] & [16] :
Những đơn vị Thiết giáp
đầu tiên của Quân đội Quốc Gia Việt Nam :
Ngày 01 tháng 01 năm 1951, Quân đội Quốc Gia Việt
Nam thành lập đơn vị Thiết giáp đầu
tiên, đó là tiểu đoàn 1 Thám thính xa hoạt động
tại Nam Việt, thuộc quyền điều động
của bộ Tư lệnh Đệ Nhất Quân khu.
Tiếp đến ngày 01 tháng 3 năm 1951, tiểu đoàn Thiết giáp thứ hai được thành lập, lấy tên là tiểu đoàn Thám thính 4 thuộc Đệ Tứ Quân khu (danh hiệu của các các đơn vị Thiết giáp đầu tiên được đặt theo số hiệu của Quân khu mà đơn vị đó thống thuộc) .
Ngày 01 tháng 5, tiểu đoàn Thám thính 3 thành lập tại Bắc Việt, thuộc quyền điều động của Đệ tam Quân khu. (Các tiểu đoàn Thiết giáp sau này được cải danh thành chi đoàn Thiết giáp).
Vào thời gian này, Thiết giáp Quân đội Quốc gia chưa thành lập bộ chỉ huy binh chủng, và cũng do chưa có đủ sĩ quan Việt Nam nên các tiểu đoàn Thám thính xa tạm thời do các sĩ quan Pháp giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng, các sĩ quan Việt Nam giữ chức vụ phụ tá hoặc chi đội trưởng, giám sát hoạt động các tiểu đoàn này là vị tổng thanh tra Thiết giáp Quân đội Pháp tại Việt Nam.
Đến ngày 01 tháng 9 năm 1952, cùng với các binh chủng khác, văn pḥng thanh tra Thiết giáp Quân đội Quốc gia được thành lập nhưng vẫn do Tổng Thanh Tra Thiết giáp Pháp chỉ huy.
Cũng trong năm 1952 có thêm 3 đơn vị Thiết giáp được thành lập theo tiến tŕnh sau đây: Ngày 01 tháng 5, tiểu đoàn Thám thính 2 thành lập tại Trung Việt, thống thuộc bộ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu; Ngày 01 tháng 9, tại Bắc Việt có thêm tiểu đoàn Thám thính 5;Ngày 01 tháng 12, chi đoàn thám thính 6 thành lập tại Nam Việt.
Trong năm 1952, có một vài đơn vị hoàn toàn do sĩ quan Việt Nam chỉ huy từ chức vụ chi đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng, trong đó có tiểu đoàn Thám thính 3 do đại úy Lâm Văn Phát chỉ huy (cấp bậc cuối cùng: thiếu tướng, thăng ngày 2/11/1963) .
Năm 1953, tiểu đoàn Thám thính xa 7 thành lập tại Bắc Việt vào ngày 01 tháng 5.
Đầu năm 1954, tiểu đoàn thám thính xa số 8 thành lập tại Nha Trang.
Theo tổ chức lúc bấy giờ, mỗi tiểu đoàn (chi đoàn) gồm có 1 chi đội chỉ huy và 3 chi đội thám thính xa, mỗi chi đội thám thính gồm 3 thiết giáp xa AM (auto mitrailleuse) và 3 chiếc vừa Scout vừa Half track; Quân số của mỗi chi đoàn là 140 quân nhân.

Scout Half track-H́nh sưu tầm trên mạng
Trung Đoàn Thiết Giáp đầu tiên :
Đầu năm 1954, binh chủng Thiết giáp phát triển đến cấp Trung đoàn, đó là trung đoàn 3 Thám thính xa. Trung đoàn được h́nh thành từ sự kết hợp các tiểu đoàn Thám thính xa số 3, 5 và 7. Trung đoàn trưởng đầu tiên là thiếu tá De la Morsanglière. Sau nửa năm hoạt động, vị chỉ huy này đă phát biểu một số ư kiến về việc sử dụng các Thiết giáp xa như sau :
Kinh nghiệm cho thấy các xe Half track và Scout không c̣n thích hợp với chiến trường nữa. Nhiệm vụ của các chi đoàn thám thính là yểm trợ cho các cuộc hành quân mở đường, hộ tống, can thiệp khi một đơn vị bộ binh bạn đụng độ, cứu viện cho các đồn bót ban đêm đóng trên những trục lộ giao thông lớn. Tất cả những nhiệm vụ này đều cần thiết có một thiết giáp có vỏ thép dày, chạy nhanh, không gây tiếng động và được vơ trang đầy đủ. Đoàn xe thiết giáp không cần phải có một bộ phận tùng thiết cơ hữu, bởi v́ tất cả những nhiệm vụ trên đều được tiến hành với các đơn vị Bộ binh. Xe Half track và xe Scout là những loại xe mỏng manh, trung đoàn có 21 xe thuộc loại này bị nổ ḿn, th́ có tới 20 xe bị bỏ không dùng lại được. Và với mỗi xe này bị ḿn, ít nhất cũng có một hai người chết và từ ba đến 4 người bị thương nặng. Xe Half track c̣n thất lợi ở điểm là khó sử dụng, lại không chạy nhanh mà c̣n gây tiếng động. Chỉ riêng có xe AM 3 là tiện lợi. Xe chạy vừa nhanh không gây tiếng động, linh động dễ sử dụng và tương đối không nguy hiểm. Trên 20 xe AM bị ḿn và bị bắn, chỉ có 2 xe bị bắn bởi súng không giật là phải loại bỏ. C̣n tất cả những xe khác đều sửa chữa lại được, chỉ cần thay cầu trước hay cầu trung gian. Với những xe AM bị bắn này, chỉ có những người bị thương rất nhẹ. Do đó, trung đoàn chúng tôi nhận thấy cần phải thay các Half track và Scout car bằng các AM loại M 8, mỗi một chi đội có 5 AM; nếu đề nghị này chấp thuận, xin thay 18 Scout car bằng 12 AM loại AM 8 và 12 Half track bằng 10 AM loại M 8.
Sự phát triển của binh chủng Thiết giáp Quân đội Quốc gia Việt Nam sau Hiệp định Genève:
Từ tháng 5 năm 1954 đến tháng 11 năm 1954, để đáp ứng nhu cầu chỉ huy của các binh chủng Quân đội Quốc Gia Việt Nam ngày càng lớn mạnh, bộ chỉ huy lực lượng binh chủng cấp quân khu chính thức thành lập. Riêng Thiết giáp, bộ chỉ huy cấp quân khu được thành lập ngày 16 tháng 11 năm 1954 nhưng trên thực tế, các bộ chỉ huy này mới chính thức hoạt động do các sĩ quan Pháp đảm trách vừa với tư cách cố vấn cho các tư lệnh Quân khu Quân đội Quốc gia Việt Nam và vừa là chỉ huy trưởng lực lượng Thiết giáp trong quân khu.
Theo tài liệu [12] : Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp được thành lập vào ngày 01 tháng 4 năm 1955 do Trung Tá Dương Ngọc Lắm làm Chỉ Huy Trưởng đầu tiên.

Huy hiệu Bộ Chỉ Huy Binh Chủng Thiết Giáp QLVNCH – H́nh trích từ tài liệu [9]

Huy hiệu bằng kim tuyến thêu trên nón bê–rê đen Binh Chủng Thiết Giáp QLVNCH – Dùng cho Binh Sĩ Thiết Giáp- H́nh trích từ tài liệu [9]

Huy hiệu bằng kim tuyến (trái) và kim loại (phải) thêu/gắn trên nón bê–rê đen Binh Chủng Thiết Giáp QLVNCH – Dùng cho Sĩ Quan sơ cấp Thiết Giáp - H́nh trích từ tài liệu [9]

Huy hiệu bằng kim tuyến thêu trên nón bê–rê đen Binh Chủng Thiết Giáp QLVNCH – Dùng cho Sĩ Quan cao cấp Thiết Giáp - H́nh trích từ tài liệu [9]

Bằng Thiết Giáp thêu trên nắp túi chiến y Sĩ Quan cao cấp BCTG QLVNCH - H́nh trích từ tài liệu [9]
Ngày 29 tháng 3 năm 1955, tổ chức thanh tra binh chủng trung ương của Quân đội Quốc Gia Việt Nam chính thức thành lập với các vị thanh tra kiêm chỉ huy trưởng binh chủng, để thay thế các bộ chỉ huy binh chủng cấp quân khu bị giải tán. Những vị sĩ quan này được coi là những chỉ huy trưởng đầu tiên của binh chủng được bổ nhậm. Riêng binh chủng Thiết giáp do trung tá Dương Ngọc Lắm giữ chức thanh tra kiêm chỉ huy trưởng.
Về hệ thống binh đoàn, trước khi Hiệp đ́nh Genève được kư kết (20-7-1954), chỉ có Đệ tam Quân khu có cấp trung đoàn Thiết giáp, sĩ quan Việt Nam đầu tiên thay thế sĩ quan Pháp chỉ huy trung đoàn này là thiếu tá Dương Ngọc Lắm. Tại các quân khu khác chỉ có các tiểu đoàn (chi đoàn) biệt lập. Ngoài số chi đoàn cũ, có thêm chi đoàn thám xa 10 và 11 được thành lập để đáp ứng cho chiến trường Miền Trung và Nam Việt. Đến khi đ́nh chiến, Đệ nhất trung đoàn Thiết giáp hộ tống của Pháp được chuyển giao cho Quân đội Quốc Gia Việt Nam. Đây là một đơn vị cơ giới phức tạp, với đủ các loại xe, dùng để hộ tống các đoàn xe vận chuyển trên đường bộ và cả trên đường xe lửa. Vào thời gian này, các đơn vị Thiết Giáp phối trí như sau :
- Đệ tam Trung Đoàn Thám Thính Xa, Đà Nẵng;
- Đệ nhất Trung Đoàn 1 Thiết Giáp Hộ Tống,Gia Định;
- Chi Đoàn 1 Thám Thính Xa,Cần Thơ;
- Chi Đoàn 2 Thám Thính Xa, Văn Xá (Trung Việt);
- Chi Đoàn 4 Thám Thính Xa, Ban Mê Thuột;
- Chi Đoàn 6 Thám Thính Xa, Long Xuyên;
- Chi Đoàn 10 Thám Thính Xa An Nông (Trung Việt);
- Chi Đoàn 11 Thám Thính Xa, Cai Lậy.
Theo tài liệu [12] : Khi hiệp định Genève được kư kết chia đôi đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, Binh chủng Thiết giáp gồm 1 Lữ đoàn và 4 Thiết đoàn biệt lập.
Đầu năm 1955, tên gọi các trung đoàn thám thính được đổi thành các trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp, tổ chức này được duy tŕ tới khi có kế hoạch quân số áp dụng vào tháng 9/1955 với việc thành lập thêm liên đoàn thủy xa và 2 trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp số 2 và số 4. Tất cả các đơn vị Thiết giáp đă trải qua một thời kỳ cải tổ để đến cuối năm 1955 hoàn thành theo sự kết hợp và phối trí như sau :
- Đệ nhất
trung đoàn kỵ binh đóng tại Gia Định, kết
hợp bởi các đơn vị thuộc đệ nhất
trung đoàn thiết giáp hộ tống, riêng các cơ giới
chạy trên đường rầy như loại Wicklam và
những toa xe bọc thép vơ trang đều cho Sở Hỏa
xa Quân đội (thành lập 1 tháng 9/1955).
- Đệ nhị trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp
đóng tại Miền Tây Nam Việt, kết hợp bởi
các chi đoàn 1,6 và 11.
- Đệ tam trung đoàn Kỵ
binh Thiết giáp đóng tại Đà Nẵng, kết hợp
với một phần của trung đoàn 3 Thám thính xa và một
phần các chi đoàn biệt lập ở Miền Trung.
- Đệ tứ trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp
trước đóng tại Nha Trang sau chuyển lên Ban Mê Thuột,
kết hợp bởi các chi đoàn 4 và 8 và một phần
của trung đoàn 3 Thám thính xa.
- Đệ ngũ liên đoàn thủy xa đóng ở Nhà Bè,
được thành lập với 1 chi đoàn chiến xa
con cua (crabes) và 1 chi đoàn chiến xa con cá sấu
(alligators). Đây là những chiến xa lội nước
xuất hiện trong các trận chiến giữa quân đội
Liên Hiệp Pháp và quân Việt Minh). Khi đ́nh chiến, các
loại xe này đă cũ, Pháp mới chuyển giao cho Quân
đội Quốc gia Việt Nam để thành lập những
đơn vị trên. Bởi thế liên đoàn thủy xa
này chỉ hoạt động được một thời
gian ngắn th́ giải tán.
Theo tài liệu [12] : Những chiến xa đầu tiên của binh chủng đều thuộc loại M-24 Chaffees hạng nhẹ và loại M-8 nửa bánh nửa xích (đều do Quân đội Pháp để lại).
Các trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp với quân số 514 quân nhân gồm 1 chi đoàn chỉ huy. một chi đoàn chiến xa và 2 chi đoàn thám thính xa. Binh chủng Thiết giáp kể cả liên đoàn thủy xa ( 420 quân nhân) đến cuối năm 1955 có quân số là 2,500 người. Một thời gian sau, các trung đoàn Thiết giáp Ky binh (TGKB) được cải danh thành Trung đoàn 1, 2, 3 và 4 TGKB. Về chiến xa, trước năm 1960, các chiến xa M 24 là loại cơ giới chính yếu của binh chủng Thiết giáp.
Theo tài liệu [12] : Đến năm 1956, Thiết Giáp Kỵ Binh được tổ chức tiêu chuẩn hơn gồm những Trung đoàn Kỵ Binh, mỗi Trung đoàn có 2 Chi đoàn được trang bị chiến xa M-3, M-8, và M-24.

Chiến xa M-3-H́nh sưu tầm trên mạng

Chiến xa M-8-H́nh trích từ tài liệu [17]

Chiến xa M-24 Chaffees- H́nh trích từ tài liệu [18]
Thời gian từ năm 1957-1962, Thiết Kỵ chỉ giữ một vai tṛ khiêm nhường trên chiến trường miền Nam, v́ địa h́nh nhiều rừng rậm và sông rạch lầy lội không thích hợp với di chuyển của chiến xa. Tuy nhiên với nhu cầu của chiến trường, những thiết vận xa M-113 (c̣n gọi là xe tăng lội nước) được đem ra áp dụng và rất hữu hiệu với các mặt trận ở đồng bằng và đă thành công trong các cuộc hành quân ở vùng 4 chiến thuật. Sau đó các thiết vận xa M-113 được trang bị thêm lá chắn và hoả lực mạnh hơn để trở thành loại chiến xa đa dụng của binh chủng Thiết Giáp (xin phân biệt chiến xa hay xe tăng có nhiệm vụ chính là dùng hoả lực tiêu diệt địch quân, c̣n Thiết quân vận có mục đích nguyên thuỷ là dùng để chở quân đổ vào mục tiêu).
Thiết vận xa M 113 và cuộc thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam:
Cuối năm 1961, cộng sản Bắc Việt gia tăng hoạt động quân sự tại miền Nam, tiến hành hàng loạt cuộc tấn công vào vị trí pḥng thủ của các đơn vị Việt Nam Cộng Ḥa. Trước diễn biến của t́nh h́nh, Hoa Kỳ đă tăng cường yểm trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng Ḥa. Trong số những quân dụng được Hoa Kỳ chuyển giao cho Việt Nam Cộng Ḥa có loại xe Thiết Giáp M 113. Ban đầu, các xe này được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh sử dụng cơ giới trong yểm trợ. Tuy nhiên, bộ chỉ huy Thiết giáp yêu cầu các M 113 phải được những quân nhân Thiết giáp xử dụng và Trường Thiết Giáp nằm trong Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức có nhiệm vụ huấn luyện M 113.
Cuộc chuyển giao đầu tiên diễn ra vào ngày 30 tháng 02 năm 1962 với 32 chiếc M 113, trong đó 30 chiếc giao cho hai đại đội cơ giới, mỗi đại đội có 15 chiếc.
Theo tổ chức, mỗi đại đội có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ, mỗi chi đội chiến đấu có 3 M 113, chi đội yểm trợ có 4 chiếc M 113, trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M 113, một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo tŕ và sửa chữa, chỉ có tài xế và xa trưởng là quân nhân thuộc binh chủng Thiết giáp, trong khi các xạ thủ súng máy tuyển từ các đơn vị Bộ binh nên chưa có nhiều kinh nghiệm phải kéo dài huấn luyện từ 6 lên 9 tuần lễ. Hai đại đội này chính thức xuất quân vào ngày 11 tháng 6 năm 1962, và bộ chỉ huy chiến trường quyết định đưa hai đơn vị này xuống đồng bằng Cửu Long để bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài G̣n. Hai đại đội đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh, sau đó được cải biến thành đại đội 7 và đại đội Cơ giới M 113.
Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ, loại M 113 được dùng như một loại “taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu, thế nhưng trên chiến trường Việt Nam, kinh nghiệm cho thấy đem lực lượng Bô Binh tới sát mục tiêu thường bị tổn thất nặng, khả năng di động bị hạn chế tối đa, phải hy sinh khả năng yểm trợ của Thiết vận xa. Từ những kinh nghiệm đó, các đại đội Cơ giới đă linh động trong chiến thuật, các quân nhân trên mỗi xa đội thường ngồi trên chiến xa để chiến đấu, chỉ nhảy ra khỏi xe khi vị trí địch quân bị tràn ngập hoặc khu vực đó đă được lục soát kỹ. Các Thiết quân vận M 113 qua sự sử dụng của Thiết giáp binh VNCH đă trở thành loại xe tốc chiến giống như chiến xa và cách đánh này cũng được nhiều đơn vị Hoa Kỳ áp dụng sau này.
Từ đại đội Cơ giới đến các chi đoàn Thiết Thiết quân vận:
Đến hết tháng 10 năm 1962, hai đại đội Cơ giới trên đă tiêu diệt 517 CQ, bắt sống 203 cộng quân, trong khi sự tổn thất của hai đại đội này được ghi nhận là rất nhẹ: 4 tử trận và 13 bị thương. Sau giai đoạn thử nghiệm với kết quả khả quan, hai đại đội Cơ giới được cải thành chi đoàn cơ giới số 4 và số 5 trực thuộc Trung đoàn 2 Kỵ binh (sau đổi thành Thiết đoàn 2) đóng tại Mỹ Tho. Các trung đoàn 1 và 4 cũng được tái tổ chức vào cuối năm 1962. Trước đó, vào tháng 9, các chiến xa M 113 mới được giao cho một số chi đoàn và công tác huấn luyện được tiến hành vào những tháng tiếp theo. Đến tháng 5/1963 th́ mọi kế hoạch tái trang bị đă hoàn tất, mỗi trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp (thiết đoàn) có 1 chi đoàn Chiến xa M 24, 1 chi đoàn Trinh sát M 114, hai chi đoàn cơ giới M 113, ngoại trừ trung đoàn 2 Kỵ binh không có chi đoàn chiến xa nên được thêm một chi đoàn M 113.
Thời gian này, Thiết vận xa M 113 càng ngày càng trở thành một loại Thiết giáp đa dụng, có thể đi bất cứ nơi nào trong toàn lănh thổ miền Nam Việt Nam kể cả những nơi tưởng rằng rất khó sử dụng cho Thiết giáp như ở Miền Tây sông ng̣i chằng chịt. Bất cứ địa thế hiểm trở nào, M 113 cũng có cách thích ứng ngay. Trong năm 1963 nhiều chiến thuật, kỹ thuật và đơn vị mới được thử nghiệm trên chiến trường 4 vùng chiến thuật. Trong số những cải tiến này là loại xe M 113 được gắn thêm một khẩu đại liên 50. Nhưng trong trận Ấp Bắc tháng Giêng 1963, 14 xạ thủ đại liên 50 đại liên tử trận nên đă phải chế ra cái bững chống đạn bao quanh xạ thủ đại liên. Từ năm 1964, tất cả các M 113 đều được gắn lá chắn chống đạn bằng loại kim khí cứng đầy.
Trong một tài liệu tịch thu được của cộng quân, có đoạn nói về sự kinh hoàng của Cộng quân trước sự hữu hiệu của chiến xa M 113, nguyên văn như sau: “Thiết giáp của địch xuất hiện trong lúc chúng ta yếu và vũ khí chống chiến xa của chúng ta thô sơ và hiếm. Chúng ta không có kinh nghiệm chống Thiết giáp, v́ thế Thiết giáp của địch rất hữu hiệu và gây cho chúng ta nhiều khó khăn lúc đầu.”
Theo ghi nhận của các cấp chỉ huy Thiết giáp, trong thời gian đầu, cộng quân tránh không dám giao tranh với các xa đội M 113 mà quân sĩ đối phương gọi là những con rồng xanh, v́ cái h́nh dáng của nó trong khi di động trên các cánh đồng bùn lầy phun lửa và khói. Dần dần cộng quân t́m cách để vô hiệu hóa M 113. Địch quân đào hầm hố trên các con đường ở miền Tây, những ḿn bẫy chống chiến xa được gài hàng dọc hoặc tại những chỗ quẹo. Đầu năm 1963, cộng quân có loại đạn gây sức nóng để sử dụng cho loại súng đại liên của Trung Cộng cấp. Ngoài ra, các vũ khí chống chiến xa của cộng quân được tăng cường thêm với loại lựu đạn chống tăng PGN-2 bắn từ AK 47 và hỏa tiễn 57 ly.
Trong khi loại Thiết quân vận M 113 được phát triển mạnh trên chiến trường th́ vũ khí của VC dùng để chống chiến xa cũng gia tăng. Đến năm 1965, các đơn vị cấp đại đội hoặc nhỏ hơn đều có trang bị vũ khí chống chiến xa, loại vũ khí hữu hiệu nhất của cộng quân vào thời kỳ này là hỏa tiễn RPG-2 của Liên Sô và sau đó là hỏa tiễn B-40. Những loại vũ khí tuy đă gây khó khăn cho các cuộc hành quân có Thiết giáp tham dự, nhưng các chi đoàn Thiết kỵ vẫn giành được thế chủ động về hỏa lực trong các cuộc tấn công phối hợp với Bộ Binh.

Thiết quân vận M 113-H́nh trích từ tài liệu [12]

M-113 gắn ‘khiên chống đạn”- H́nh trích từ tài liệu [19]

Đại Úy Lư Ṭng Bá va cố vấn Mỹ trên thiết vận xa M113-H́nh trích từ tài liệu [5]
Thay đổi các loại súng máy gắn và mang trên xe M113 ( theo tài liệu [19] ) :
Một số pháo tháp cũ, lấy từ các chiến xa phế thải (M-24; M-8..) cũng được Quân cụ VNCH thử lắp đặt trên các xe M-113 như các giàn súng đại liên .30 đôi thay cho đại liên 12.7 và cả các đại bác 20 ly nhưng không thích hợp. Từ cuối 1963, một số xe được gắn thêm súng máy có khiên che bên hông (tuy 1964 có gắn thử cả ống phóng rocket 2.75, nhưng không chính xác khi sử dụng)
Tháng 8-1962, một hệ thống phun lửa được lắp đặt trên xe nhưng chỉ thật sự thử nghiệm chiến trường có.. 4 lần (?)..Tháng 12-1964, hai xe phun lửa (tên mới là M-132) được giao cho Thiết đoàn 1 thử nghiệm, kết quả khả quan nên sau đó mỗi Thiết đoàn được trang bị thêm 4 xe M-132 kèm theo 2 xe M-113 chuyên dụng chở theo các phụ tùng và thiết bị.. để phóng hỏa.
Về súng cối : Trong các đợt cải tổ tháng 11 và 12, năm 1962, súng cối 81 được trang bị cho các Thiết đoàn, nhưng trong giai đoạn vài tháng trước 1963, ít được sử dụng v́ việt cộng thường lẩn tránh đối đầu với M-113, tuy nhiên sau khi t́m ra phương cách đối phó cùng có thêm các vũ khí mới, toán súng cối của Thiết kỵ có dịp hoạt động yểm trợ thường xuyên hơn cho các đơn vị bộ binh đi kèm : nhu cầu gắn súng cối trong xe trở thành cấp thiết hơn v́ tại vùng đầm lầy và mưa mùa rất khó t́m được vị trí đặt súng (!)
Sau khi đánh giá khả năng của súng cối 81, các chuyên viên của toán Nghiên cứu Mỹ đă đề nghị gắn loại cối 4.2 inch bên trong xe M-113, và loại xe này có tên mới M-106.
(Tháng 5-1965, Thiết đoàn 2 được trang bị 4 xe M-106 để lập thành Chi đội ‘Thiết giáp’ Súng cối..)

Xe M106-H́nh trích từ tài liệu [19]
Về chiến xa, đến năm 1964, các chiến xa M-24 do Pháp để lại cũ kỹ không có cơ phận thay thế v́ khó mua, máy móc hư muốn sửa lại phải đưa sang Nhật. Trước thực trạng đó, đến giữa năm 1964, loại M 41A 3 Walker Bulldog nhẹ được chọn để thay thế M24 tối tân hơn với hoả lực chính: đại bác 76mm và đại liên 50 (đạn cỡ 12ly7, sau thay bằng đại liên M-60 nhẹ và tác xạ nhanh hơn) (Loại này tuy bị coi là nhỏ bé chật chội đối với người tây phương cồng kềnh, nhưng đối với người Việt Nam nhỏ tác th́ lại rất vừa vặn và hữu hiệu).
Đợt chiến xa đầu tiên M 41A 3 được giao cho binh chủng Thiết giáp vào tháng Giêng năm 1965 và đến cuối năm 1965 đă có 5 chi đoàn được trang bị và hoàn tất chương tŕnh huấn luyện.
Ngay trong thời gian đầu, loại M 41 A 3 , chẳng bao lâu đă trở thành xương sống và là niềm tự hào của binh chủng Thiết Giáp Kỵ Binh, đă chứng minh rằng Thiết giáp binh VNCH đă có sự chọn lựa đúng nhất v́ đây là một loại chiến xa tác chiến rất hữu hiệu và các chiến binh Thiết giáp VNCH đă rất tinh nhuệ khi sử dụng.

Một chiếc xe tăng M-41 Bulldog của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa , tháng 11 năm 1971- H́nh trích từ tài liệu [20]
Cũng trong năm này (1965) , Bộ chỉ huy Thiết Kỵ được lệnh giải tán vào giữa tháng 11. Sau đó 5 tháng vào ngày 15/4/1965 được tái lập và đặt Bộ chỉ huy tại trại Phù Đổng, Hạnh Thông Tây, G̣ vấp, Gia Định.
Trong thập niên 1960, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng ḥa có ưu thế khá lớn v́ quân cộng sản thời kỳ này chưa có xe tăng, xe thiết giáp.
Giai đoạn phát triển 64-1969 :
Đến tháng 10 năm 1963, lực lượng Thiết giáp binh Quân Lực Việt nam Cộng Ḥa (QLVNCH) có 4 trung đoàn Thiết Giáp Kỵ Binh ( TGKB) đă được phối trí như sau: Trung đoàn 1 TGKB, bộ chỉ huy đóng ở G̣ Vấp, thuộc Vùng 3 chiến thuật; Trung đoàn 2 TGKB đóng ở Mỹ Tho, thuộc Vùng 4 chiến thuật; Trung đoàn 3 TGKB, đóng ở Pleiku thuộc Vùng 2 chiến thuật; Trung đoàn 4 TGKB đóng tại Quảng Trị, sau dời vào Đà Nẵng, thuộc Vùng 1 chiến thuật.
Từ 1964 đến 1967, các đơn vị chiến xa và Thiết quân vận đă có mặt trong hầu hết các cuộc hành quân quy mô do các bộ tư lệnh Sư đoàn/Khu chiến thuật tổ chức.
Trong hai năm 1968 và 1969, do nhu cầu chiến trường, nhiều thiết đoàn (danh xưng mới của các trung đoàn Thiết giáp) được thành lập thêm để yểm trợ cho các sư đoàn Bộ binh theo sự phối trí như sau: mỗi sư đoàn có một thiết đoàn yểm trợ. Vào thời gian này, Quân lực VNCH có 10 sư đoàn Bộ binh: 1, 2 (Quân đoàn 1), 22, 23 (Quân đoàn 2), 5, 18, 25 (Quân đoàn 3), 7, 9 và 21 BB (Quân đoàn 4).
Trong thập niên 1960, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng ḥa có ưu thế khá lớn v́ quân cộng sản thời kỳ này chưa có xe tăng, xe thiết giáp.
Vào đầu thập niên 1970, khi cộng quân Bcắ Việt dùng các loại chiến xa T-54 và PT-76 (năm 1968, PT-76 xuất hiện tại Làng Vây và Khe Sanh) để yểm trợ cho bộ binh. Binh chủng Thiết Giáp Kỵ Binh Việt Nam Cộng Ḥa được Hoa Kỳ canh tân qua chương tŕnh Việt Nam hoá chiến tranh và được trang bị loại chiến xa tối tân hạng nặng M48 Patton (trang bị hoả lực đại bác 90mm và có gắn máy ngắm hồng ngoại Xenon) để tương ứng đối đầu với chiến xa T-54 được trang bị đại bác 100mm của đối phương. Trong những cuộc hành quân lớn và quy mô như vượt biên qua Cao Miên năm 1970, Hạ Lào năm 1971 và trận chiến Mùa hè đỏ lửa năm 1972, các chiến xa của binh chủng Kỵ Binh Việt Nam Cộng ḥa đă gây cho đối phương nhiều tổn thất đáng kể.

Chiến xa M48A3 tại Quảng Trị năm 1972 – H́nh trích từ tài liệu [21]

M48 với con lăn phá ḿn - H́nh trích từ tài liệu [22]
Theo tài liệu [19] : Năm 1971, một số xe thiết giáp M-42 A-1 Dusters được Hoa Kỳ cung cấp cho Thiết giáp VNCH đề thành lập các Tiểu đoàn thiết giáp pḥng không. Thêm vào đó c̣n có các xe vận tải GMC được trang bị Hệ thống đại liên 4 ṇng M-55. Tuy mang danh nghĩa pḥng không nhưng các M-42 được VNCH dùng như các xe bảo vệ căn cứ và yểm trợ hành quân. M-42 Dusters là thiết giáp dùng khung-sườn căn bản , sửa đổi pháo tháp của M-41 thay đại bác 76 ly bằng giàn đại bác đôi 40 ly Bofors) .

M-42 A-1 Dusters - H́nh trích từ tài liệu [19]
Tính đến năm 1975, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng Ḥa gồm có 1 Bộ Tư lệnh tại Trung ương và 4 Bộ tư lệnh Lữ đoàn tại 4 Quân khu, trong đó gồm có: 3 Thiết đoàn chiến xa M-48, 14 Thiết đoàn thiết kỵ M-113 và 6 Thiết đoàn chiến xa M-41 được phối trí đều và thích ứng theo địa h́nh cho 4 vùng chiến thuật: Vùng 1, 2 và 4, mỗi vùng 5 Thiết đoàn, Vùng 3 có 6 Thiết đoàn. Ngoài ra phối trí cho các Tiểu khu, mỗi Tiểu khu có 1 chi đội thám thính xa Cadillac Gage Commando Vehicle V-100 (di chuyển bằng bánh hơi, rất cơ động và nhanh lẹ). Một Chi đoàn gồm đủ các loại: M-48, M-41, M-113 và V-100 để cho khoá sinh tập huấn tại Trường huấn luyện Thiết giáp. Số c̣n lại thuộc dụng Bộ Tư lệnh Thiết giáp Trung ương. Tổng số là 21 Thiết đoàn, trang bị lên tới trên 2.000 xe tăng - xe thiết giáp các loại.
Thiết giáp binh QLVNCH giai Đoạn 1970-1975 :
Sau đây là lược sử chiến trường của các đơn vị Thiết kỵ trong giai đoạn 1970-1975, giai đoạn sôi động nhất của cuộc chiến Việt Nam:
Vào năm 1968 và 1969, do nhu cầu chiến trường, binh chủng Thiết giáp đă thành lập thêm nhiều thiết đoàn để yểm trợ cho các sư đoàn Bộ binh theo sự phối trí là mỗi thiết đoàn thống thuộc một Sư đoàn.
Riêng về Thiết vận xa, từ sau Tết Mậu Thân, mỗi chi đoàn được tăng thêm 5 chiếc M 113, như thế tổng số xe lên M 113 của mỗi chi đoàn là 22 chiếc (có tài liệu ghi là 21 chiếc), kể cả xe dành cho chi đoàn trưởng và xe bảo tŕ. Sau đó, mỗi chi đội có một chiến xa trang bị thêm 1 đại bác 106 ly không giật để tăng cường hỏa lực.
Đến cuối năm 1969, lực lượng Thiết giáp QL.VNCH đă 10 thiết đoàn Kỵ binh hành quân trong hệ thống chỉ huy của 10 Sư đoàn Bộ binh. (Sư đoàn cuối cùng của QL.VNCH là Sư đoàn 3 Bộ binh được thành lập vào tháng 10/1971).
4 lữ đoàn Kỵ binh tại 4 Vùng chiến thuật :
Năm 1970, t́nh h́nh chiến sự tại 4 Vùng chiến thuật rất sôi động với những trận giao tranh lớn, và trong các cuộc tấn công của các đơn vị bộ chiến, hỏa lực Thiết giáp là một trong những yếu tố rất cần để quyết định chiến trường.
Trước cuộc diện mới của chiến sự, lực lượng Thiết giáp tại các quân khu đă phát triển lên cấp lữ đoàn, danh hiệu của các lữ đoàn đặt theo danh hiệu của Quân khu: Lữ đoàn 1 Kỵ binh (KB) hoạt động tại các tỉnh phía Bắc Trung nguyên Trung phần, trong vùng trách nhiệm của Quân đoàn 1/Quân khu 1; Lữ đoàn 2 KB hoạt động tại Cao nguyên thuộc Quân đoàn 2/Quân khu 2, Lữ đoàn 3 hoạt động trên chiến trường Miền Đông thống thuộc Quân đoàn 3/Quân khu 3, Lữ đoàn 4 hoạt động tại Miền Tây Nam phần thuộc Quân đoàn 4/Quân khu 4. Sĩ quan chỉ huy lữ đoàn có chức danh là tư lệnh Lữ đoàn (binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục chiến gọi là lữ đoàn trưởng).
Các tư lệnh Lữ đoàn đầu tiên là đại tá Phan Ḥa Hiệp (lữ đoàn 1), đại tá Nguyễn Đức Dzung (lữ đoàn 2, giữ chức tư lệnh lữ đoàn khi c̣n mang cấp trung tá), đại tá Trần Quang Khôi (lữ đoàn 3, thăng chuẩn tướng tháng 4/1974), đại tá Vũ Quốc Gia (lữ đoàn 4), Đến cuối năm sĩ quan 1971, Lực lượng Thiết giáp VNCH có 11 thiết đoàn Kỵ binh thống thuộc 11 Sư đoàn, 4 lữ đoàn Kỵ binh tại 4 quân khu. Ngoại trừ các thiết đoàn thuộc Quân khu 4 (Vùng 4 chiến thuật) gồm toàn các chi đoàn Thiết vận xa, các thiết đoàn thuộc Sư đoàn và Lữ đoàn khác gồm có 1 chi đoàn chiến xa M 41 và 2 chi đoàn Thiết vận xa M 113.
Trận chiến từ 1970 đến 1972 :
Tháng 5 năm 1970, các thiết đoàn Kỵ binh thống thuộc các Sư đoàn Bộ binh tại Vùng 3, Vùng 4 chiến thuật, các Lữ đoàn 3 và Lữ đoàn 4 KB đă cùng với các đơn vị Bộ binh, Pháo binh, Công binh chiến đấu tham dự nhiều cuộc hành quân ngoại biên do các bộ Tư lệnh Quân đoàn tổng chỉ huy, nhằm triệt hạ các căn cứ địa của CSBV trên đất Cam Bốt. Khởi đầu là cuộc hành quân Toàn Thắng 42 do bộ Tư lệnh Quân đoàn tổng chỉ huy, tiếp đến là cuộc hành quân của Quân đoàn 4. Đến giữa năm 1970, một số đơn vị Thiết kỵ thuộc Vùng 2 chiến thuật cũng tham gia cuộc hành quân ngoại biên do Quân đoàn 2 khởi động.
Năm 1971, các đơn vị Thiết kỵ thuộc Quân đoàn 3 và Quân đoàn tiếp tục các cuộc hành quân ngoại biên quy mô. Riêng tại Quân khu 1 (Vùng 1 chiến thuật), vào tháng 2/1971, Lữ đoàn 1 Ky binh đă tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào (chi tiết về cuộc hành quân này đă được tŕnh bày trong bài viết về Lữ đoàn 1 Kỵ binh). Cũng vào đầu năm 1971, Lữ đoàn 3 Kỵ binh đă tham dự cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71 qua lănh thổ Cam Bốt, sau 5 tháng liên tục truy kích, các thiết đoàn của Lữ đoàn 3 đă trở về vùng hoạt động cũ tại Miền Đông Nam phần vào tháng 7/1971.
Năm 1972, tại Quân khu 1, Thiết đoàn chiến xa M 48 được thành lập với danh hiệu là Thiết đoàn 20 thuộc Lữ đoàn 1 Kỵ binh. Một thời gian sau, tại Quân khu 2, thiết đoàn 21 chiến xa M 48 được thành lập trực thuộc Lữ đoàn 2 Kỵ binh.
Trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Lữ đoàn 1, 2, 3 KB và các thiết đoàn thống thuộc các Sư đoàn như thiết đoàn 1, 7, 8, 11… đă cùng với các đơn vị bộ chiến chận đứng các cuộc tấn công của cộng quân tại Quảng Trị, Kontum, B́nh Long và nhiều chiến trường khác. Riêng trong giai đoạn 1 của trận chiến Quảng Trị (30-3 đến 1 tháng 5/1972), do áp lực quá nặng của cộng quân, lực lượng VNCH đă triệt thoái về phía Nam sông Mỹ Chánh, trong cuộc rút quân này, do thiếu nhiên liệu nên nhiều chi đoàn Thiết giáp đă phải bỏ xe lại. Theo tài liệu của trung tướng Ngô Quang Trưởng-tư lệnh cuối cùng của Quân đoàn 1- trong giai đoạn 1 của trận chiến Quảng Trị, Lữ đoàn 1 Thiết kỵ và Thiết đoàn 11 Kỵ binh thống thuộc Sư đoàn 3 BB đă tổn thất như sau: 1, 171 chiến binh tử trận, mất tích và bị thương, mất 43 chiến xa M 48, 66 chiến xa M 41 và 103 M 113 (phần lớn bỏ lại trên đường rút quân v́ thiếu nhiên liệu và cơ phận thay thế). Trong cuộc phản công tái chiếm Quảng Trị do bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 tổng chỉ huy (từ 28/6/ đến giữa tháng 9/1972), các đơn vị của Lữ đoàn 1 đă góp phần đáng kể trong chiến thắng chung của QL.VNCH tại mặt trận này.

Thiết Đoàn 20 Chiến Xa trên cao địa Nam Đông Hà tháng 4.1972-H́nh trích từ tài liệu [23]
Theo tài liệu [23] : Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh hầu như đă bị xóa tên trong cơn băo lửa của những ngày đầu hè 1972, các sĩ quan chỉ huy xuất sắc nhất đều đă anh dũng hy sinh trên chiến trường hay đă bị trọng thương.
Nhưng những mất mát đau ḷng đó không ngăn được sự trỗi dậy của Thiết Đoàn.Ngày 3/5/1972.Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được Tổng Thống Thiệu chỉ định làm Tư Lệnh Quân Đoàn 1 & Quân Khu 1 thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm. Một trong những công tác cấp bách mà Trung Tướng Trưởng thấy cần phải cho thực hiện ngay, là tổ chức lại tất cả những đơn vị đă triệt thoái từ Quảng Trị về, không một đơn vị nào bị giải tán.Những chiến xa loại M48 A2 của Hoa Kỳ đang hoạt động ở đảo Okinawa Nhật đă được bàn giao khẩn cấp cho Quân Đoàn 1 Việt Nam Cộng Ḥa để tái thành lập Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh, những M41 và M113 đă bị mất cũng được bổ sung đầy đủ.
Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được kư kết, theo điều 7 của Hiệp định này, quân lực VNCH có quyền thay thế vũ khí, đạn dược và quân cụ nào bị hư hỏng, ṃn hay đă sữ dụng hết sau khi ngưng bắn có hiệu lực. Nhưng do thiếu ngân quỹ nên trong tài khóa 1973-1974 (từ tháng 4/1973 đến cuối tháng 3/1974), từ xe chở quân đến các đại bác đều không được thay thế nhiều. Qua tài khóa 1974-1975 th́ hầu hết các chiến cụ không được thay thế một cơ phận nào, v́ ngân sách đều dành cho các cuộc hành quân và bảo tŕ để đáp ứng cho nhu cầu chiến trường. Việc tồn đọng các công việc bảo tŕ chiến cụ của các đơn vị tăng từ 15 ngày đến 30 ngày là chuyện không thể tránh khỏi. Tỉ lệ khả dụng của chiến cụ sa sút dần. Thiết vận xa M 113 tỷ lệ này là 80-85%, chiến xa M 48 từ 75-80%.
Theo ghi nhận của các sĩ quan chỉ huy các đơn vị Thiết kỵ, từ năm 1973, tất cả các chi đoàn đă linh động để giải quyết các khó khăn về bảo tŕ và nhiên liệu, để có thể yểm trợ hữu hiệu cho các đơn vị bộ chiến trong các cuộc hành quân có Thiết giáp tham dự. Riêng tại chiến trường Trị Thiên và Nam-Tín, Thiết đoàn 7 Kỵ binh đă cùng với các đơn vị của Sư đoàn 1 BB giữ vững pḥng tuyến Tây Nam Huế, Thiết đoàn 11 Kỵ binh đă vượt qua những khó khăn sau trận chiến tại Quảng Trị, hoạt động rất hữu hiệu trên chiến trường Quảng Đà trong khuôn khổ các cuộc hành quân của Sư đoàn 3 Bộ binh.
Tính đến năm 1975, lực lượng Thiết giáp Việt Nam Cộng Ḥa gồm có 1 Bộ Tư lệnh tại Trung ương và 4 Bộ tư lệnh Lữ đoàn tại 4 Quân khu, trong đó gồm có: 3 Thiết đoàn chiến xa M-48, 14 Thiết đoàn thiết kỵ M-113 và 6 Thiết đoàn chiến xa M-41 được phối trí đều và thích ứng theo địa h́nh cho 4 vùng chiến thuật: Vùng 1, 2 và 4, mỗi vùng 5 Thiết đoàn, Vùng 3 có 6 Thiết đoàn. Ngoài ra phối trí cho các Tiểu khu, mỗi Tiểu khu có 1 chi đội thám thính xa Cadillac Gage Commando Vehicle V-100 (di chuyển bằng bánh hơi, rất cơ động và nhanh lẹ). Một Chi đoàn gồm đủ các loại: M-48, M-41, M-113 và V-100 để cho khoá sinh tập huấn tại Trường huấn luyện Thiết giáp. Số c̣n lại thuộc dụng Bộ Tư lệnh Thiết giáp Trung ương. Tổng số là 21 Thiết đoàn, trang bị lên tới trên 2.000 xe tăng - xe thiết giáp các loại.
Trận chiến cuối cùng :
Tháng 3/1975, cộng quân mở cuộc tổng tấn công chiến xa qui mô vào thị xă Ban Mê Thuột. Đến ngày 14 tháng 3/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho lệnh triệt thoái lực lượng Quân đoàn 2 tại Cao nguyên. Trong cuộc rút quân này, lực lượng Lữ đoàn 2 KB gồm các Thiết đoàn 3, Thiết đoàn 19 Ky binh và Thiết đoàn 21 Chiến xa M 48 bị tổn thất nặng. Trên lộ tŕnh rút quân, hơn 100 chiến xa bị bỏ lại v́ trúng đạn của cộng quân hoặc hư hỏng. Chỉ có chiến đoàn 3/3 Thiết kỵ với 17 Thiết vận xa M 113 khả dụng do đại úy Nguyễn Văn Hội chỉ huy, đă về đến Phan Rang với 12 Thiết vận xa. Với thành tích này, đại úy Hội được đặc cách thăng cấp thiếu tá tại mặt trận.
Tại Quân khu 1, cộng quân Bắc Việt mở cuộc tấn công bằng chiến xa T 54 vào các pḥng tuyến tiền phương của QL.VNCH tại phía Nam Thạch Hăn. Các đơn vị trú pḥng do không có Thiết giáp yểm trợ nên đă phải triệt thoái để bảo toàn lực lượng. Tại tuyến Mỹ Chánh, một chi đoàn Thiết kỵ phối hợp với một tiểu đoàn Biệt động quân và một liên đoàn Địa phương quân lập pḥng tuyến ở bờ Nam. Từ ngày 20 đến ngày 24/3/1975, cộng quân mở nhiều cuộc tấn công vào nhiều khu vực phía Nam Mỹ Chánh và tỉnh Thừa Thiên, vào lúc này lực lượng Thiết giáp tại Trị-Thiên không c̣n nhiều chiến xa để yểm trợ cho đơn vị bạn. Ngày 25/3/1975, Sư đoàn 1 Bộ binh và các đơn vị trực thuộc trong đó có Thiết đoàn Kỵ binh đă rút về cửa Tư Hiền và vài vị trí gần biển để triệt thoái. Do cầu phao tại cửa sông chưa hoàn tất kịp để sử dụng nên khi cộng quân biết có cuộc chuyển quân này đă bắt đầu tập trung pháo binh và bắn dồn dập vào các vị trí trú quân tại Tư Hiền cùng nhiều điểm hẹn khác để tàu đến đón. Nhiều chiến xa bị hư hại trong t́nh trạng bất khiển dụng.
Tại Đà Nẵng, những ngày cuối cùng của tháng 3/1975, các đơn vị thuộc Thiết đoàn 11 Kỵ binh vẫn nỗ lực yểm trợ các đơn vị Sư đoàn 3 Bộ binh tại pḥng tuyến Tây và Tây Nam Đà Nẵng. Đến ngày 29/3/1975, do lệnh triệt thoái ban hành quá đột ngột, các chi đoàn đă phải bỏ lại trong tức tưởi các chiến xa của đơn vị ḿnh tại nhiều vị trí quanh thành phố, và tại bờ biển.
Tại Miền Đông Nam phần, từ ngày 8 đến 20 tháng 4/1975, Thiết đoàn 5 Kỵ binh đă cùng với các đơn vị Bộ binh, Biệt động quân án ngữ pḥng tuyến Xuân Lộc. Sau khi lực lượng VNCH triệt thoái khỏi pḥng tuyến thép này, một pḥng tuyến mới được thành lập để bảo vệ ṿng đai Sài G̣n. Dù phải chiến đấu trong hoàn cảnh và t́nh thế nguy kịch, nhưng các đơn vị Thiết giáp thống thuộc Lữ đoàn 3 Thiết kỵ và các Sư đoàn Bộ binh đă sát cánh cùng các binh chủng bạn nỗ lực ngăn chận các đợt tấn công của CQ cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.
Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Thiết Giáp qua các thời kỳ trích từ tài liệu [11] :
1 Dương Ngọc Lắm- Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông Đà Lạt -Trung Tá-Tại nhiệm : 3/1955-05/1957-Sau cùng là Thiếu Tướng Đô Trưởng Sài G̣n-Chợ Lớn. Giải ngũ năm 1964;
2 Hoàng Xuân Lăm-Vơ Bị Đà Lạt K3- Trung Tá-Tại nhiệm : 05/1957-06/1959-Sau cùng là Trung Tướng Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Pḥng;
3 Nguyễn Văn Thiện-Vơ Khoa Thủ Đức K2-Thiếu Tá -Tại nhiệm : 06/1959-12/1963-Sau cùng giữ chức vụ Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà (Quảng Nam và Đà Nẵng). Tử nạn mất tích trên phi cơ A.37 sau khi thăng cấp Chuẩn Tướng được 2 ngày;
4 Vĩnh Lộc-Đại Tá-Tại nhiệm : 12/1963-02/1964 Sau cùng là Trung Tướng Tổng Tham Mưu trưởng 1 ngày (28/4/1975);
5 Nguyễn Đ́nh Bảng-Vơ Bị Đà Lạt K5-Trung Tá- Tại nhiệm : 02/1964-11/1964-Xử Lư Thường Vụ đến ngày Bộ Tư Lệnh Thiết GÀiáp tạm giải tán 5 tháng- Sau cùng là Đại Tá Thị Trưởng Cam Ranh (Trước nhiệm kỳ của Đại Tá Trần Công Liễu);
6 Lâm Quang Thơ- Trung Tá- Tại nhiệm : 04/1965-09/1965-Khi Bộ Tư Lệnh Thiết Giáp tái thành lập-Sau cùng là Thiếu Tướng CHT Trường Vơ Bị Đà Lạt;
7 Lương Bùi Tùng- Trung Tá- Tại nhiệm : 09/1965-02/1969-Sau cùng là Đại Tá;
8 Dương Văn Đô-Vơ Khoa Nam Định- Trung Tá- Tại nhiệm : 02/1969-09/1969- Chỉ Huy Trưởng lần 1;
9 Phan Ḥa Hiệp-Đại Tá- Tại nhiệm : 09/1969-02/1972-Sau cùng là Chuẩn Tướng Trưởng Ban Quân Sự 2 bên;
10 Nguyễn Văn Toàn-Thiếu tướng-Tại nhiệm :02/1972-05/1972-Chỉ Huy Trưởng lần 1;
11 Dương Văn Đô-Đại Tá- Tại nhiệm : 05/72-10/1972-Chỉ Huy Trưởng lần 2;
12 Lư Ṭng Bá-Vơ Bị Đà Lạt K6-Chuẩn Tướng- Tại nhiệm : 10/1972-11/1974;
13 Nguyễn Văn Toàn-TrungTướng- Tại nhiệm : 11/1974-04/1975-Chỉ Huy Trưởng lần 2;
14 Nguyễn Chinh Phu-Thiếu Tá-Tại nhiệm :03/1975-04/1975-Chỉ Huy Thiết Đoàn 21.
Lược ghi về chỉ huy trưởng đầu tiên của binh chủng Thiết giáp Quân lực VNCH trích từ tài liệu [5] :
Trung tá Dương Ngọc Lắm: nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 3 Thám thính; giữ chức chỉ huy trưởng Thiết giáp binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa từ ngày 29 tháng 3 năm 1955, năm 1958 rời binh chủng Thiết giáp, từ năm 1959 đến 1963, mang cấp đại tá và lần lượt giữ các chức vụ sau đây: tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, tổng giám đốc Bảo An và Dân Vệ (giữa năm 1964 cải danh thành tư lệnh Địa phương quân và Nghĩa quân). Đầu tháng 02 năm 1962 được thăng cấp thiếu tướng, kiêm nhiệm chức vụ Đô trưởng Đô thành Sài G̣n. Ngày 14 tháng 9 năm 1964, giải ngũ v́ bị trung tướng Nguyễn Khánh-thủ tướng, chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng nghi ngờ có liên quan đến vụ chính biến 13-9 do trung tướng Dương Văn Đức cầm đầu. Tướng Dương Ngọc Lắm là em rể của cố đại tướng Đỗ Cao Trí.
Tư Lệnh các Lữ đoàn Kỵ binh từ khi thành lập trích từ tài liệu [11] :
Lữ đoàn 1 :
Phan Ḥa Hiệp-Vơ Bị Địa phương Trung Việt Huế K1-Chuẩn Tướng-Tại nhiệm 1971-Sau cùng là Chuẩn Tướng Tổng Trưởng Thông Tin;
Nguyễn trọng Luật -Vơ Khoa Thủ Đức K1-Đại Tá- Tại nhiệm 1971-1972 Sau cùng là Đại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac ;
Trần Tín - Tại nhiệm 1972;
Vũ Quốc Gia- Vơ Khoa Thủ Đức- Đại tá -Tại nhiệm 1972-1974-Sau cùng là Đại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Phú Yên;
Nguyễn Xuân Hường- Đại Tá -Tại nhiệm 1974-1975-Tư lệnh cuối cùng.
Lữ đoàn 2
Nguyễn Đức Dung-Vơ Bị Đà Lạt K5- Đại Tá- Tại nhiệm 1971-1973 -Năm 1973-1974, giữ chức vụ TỉnhTrưởng kiêm Tiểu khu trưởng Pleiku. Năm 1974-1975, Tham Mưu Trưởng Bộ Chỉ huy Thiết giáp Trung Ương;
Nguyễn Văn Đồng- Đại Tá- Tại nhiệm1973-1975-Tư lệnh cuối cùng.
Lữ đoàn 3
Trần Quang Khôi- Đại Tá -Tại nhiệm 1970-1971-Tư lệnh lần thứ nhất;
Nguyễn Kim Định-Vơ Khoa Thủ Đức K5- Đại Tá -Tại nhiệm 1971-1973;
Trần Quang Khôi- Đại Tá -Tại nhiệm 1973-1975-Tư lệnh lần thứ hai-Thăng cấp Chuẩn Tướng năm 1974.
Chuẩn tướng Trần Quang Khôi- H́nh trích từ tài liệu [8]
Lữ đoàn 4
Vũ Quốc Gia - Đại Tá -Tại nhiệm 1969-1972;
Nguyễn Văn Của-Vơ Khoa Thủ Đức K3- Tại nhiệm 1972-1974-Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng B́nh Dương;
Trần Ngọc Trúc - Đại Tá -Tại nhiệm 1974-1975-Tư lệnh cuối cùng.
Bảng phối trí các Lữ Đoàn theo tài liệu [11 :
Lữ đoàn 1 - Quân khu 1- Chỉ Huy Nguyễn Xuân Hường-Vơ Bị Địa phương Trung Việt (Huế) K1-Đại tá -Phối thuộc Quân đoàn I .
1 Thiết đoàn 20 -Chiến xa M.48-Chỉ Huy Phan Công Tuấn-Trung Tá-Cơ hữu Lữ đoàn;
2 Thiết đoàn 17-Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Nguyễn Viết Thạnh-Trung Tá ;
3 Thiết đoàn 4 - Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Trần Văn Minh-Thiếu Tá- Phối thuộc SĐ 2 Bộ binh;
4 Thiết đoàn 7- Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Hồ Đàn- Phối thuộc SĐ 1 Bộ binh;
5 Thiết đoàn 11- Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Nguyễn Hữu Lư- Trung Tá-Phối thuộc SĐ 3 Bộ binh .
Lữ đoàn 2--Quân khu 2- Chỉ Huy Nguyễn Văn Đồng-Vơ Bị Đà Lạt-Đại tá-Phối thuộc Quân đoàn II .
6 Thiết đoàn 21-Chiến xa M.48- Chỉ Huy-Nguyễn Cung Vinh-Vơ Bị Đà Lạt K18- Trung tá
& Nguyễn Chinh Phu-Thiếu Tá-Cơ hữu Lữ đoàn;
7 Thiết đoàn 3-Thiết vận xa M.113 &Chiến xa M.41- Chỉ Huy Nguyễn Văn Triết-Thiếu Tá ;
8 Thiết đoàn 19 - Thiết vận xa M.113 &Chiến xa M.41- Chỉ Huy Hoàng Kiều- Thiếu Tá;
9 Thiết đoàn 8- Thiết vận xa M.113 &Chiến xa M.41- Chỉ Huy Nguyễn Văn Đêm- Thiếu Tá- Phối thuộc SĐ 23 Bộ binh;
10 Thiết đoàn 14- Thiết vận xa M.113 &Chiến xa M.41- Chỉ Huy Lương Chí-Vơ Bị Đà Lạt K10-Kiêm Lữ đoàn phó-Đại Tá-Phối thuộc SĐ 22 Bộ binh.
Lữ đoàn 3-Quân khu 3 - Chỉ Huy Trần Quang Khôi-Vơ bị Đà Lạt K6-Chuẩn Tướng-Phối thuộc Quân đoàn III .
11 Thiết đoàn 22 -Chiến xa M.48- Chỉ Huy Nguyễn Văn Liên-Trung Tá-Cơ hữu Lữ đoàn;
12 Thiết đoàn 15 - Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Đỗ Đức Thảo- Trung Tá- Cơ hữu Lữ đoàn;
13 Thiết đoàn 18 - Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Nguyễn Đức Dương -Vơ Khoa Thủ Đức K5p (Khóa 11B Trừ bị Đà Lạt)- Trung Tá-Cơ hữu Lữ đoàn;
14 Thiết đoàn 1 - Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Nguyễn Minh Tánh-Vơ Khoa Thủ Đức K5-Phối thuộc SĐ 5 Bộ binh;
15 Thiết đoàn 10- Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Huỳnh Kiêm Mậu- Trung Tá-Phối thuộc SĐ 25 Bộ binh;
16 Thiết đoàn 5- Thiết vận xa M.113 & Chiến xa M.41- Chỉ Huy Trần Văn Nô- Trung Tá-Phối thuộc SĐ 18 Bộ binh .
Theo tài liệu [24] : Tháng 3 năm 1971, Trung Tá Trương Hữu Đức được cử giữ chức vụ Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 5 Kỵ binh ở Long Khánh thay thế Thiếu tá Trần Văn Nô .
Năm 1972, khi đang là Đại Tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn Đặc nhiệm, ông tử trận trong khi đang thi hành nhiệm vụ. Được truy thăng cấp bậc Chuẩn Tướng.
Lữ đoàn 4 -Quân khu 4- Chỉ Huy Trần Ngọc Trúc-Vơ Khoa Thủ Đức K2-Đại tá-Phối thuộc Quân đoàn IV .
17 Thiết đoàn 12- Thiết vận xa M.113- Chỉ Huy Phạm Hữu Tường-Trung Tá-Cơ hữu Lữ đoàn;
18 Thiết đoàn 16- Thiết vận xa M.113- Chỉ Huy Lê Văn Thành- Trung Tá-Cơ hữu Lữ đoàn;
19 Thiết đoàn 2- Thiết vận xa M.113- Chỉ Huy Nguyễn Văn Việt Tân- Thiếu Tá-Phối thuộc SĐ 9 Bộ binh;
20 Thiết đoàn 6- Thiết vận xa M.113- Chỉ Huy Ngô Đức Lâm-Thiếu Tá-Phối thuộc SĐ 7 Bộ binh;
21 Thiết đoàn 9- Thiết vận xa M.113- Chỉ Huy Trần Hữu Thành-Vơ Khoa Thủ Đức K10-Trung Tá-Phối thuộc SĐ 21 Bộ binh.
Bộ Chỉ huy Binh chủng Thiết giáp tháng 4/1975 theo tài liệu [11] :
1 Nguyễn Văn Toàn -Vơ Bị Đà Lạt K5-TrungTướng-Chỉ Huy Trưởng-Kiêm Tư lệnh Quân đoàn III;
2 Thẩm Nghĩa Bôi-Vơ Bị Đà Lạt K5-Đại Tá-Chỉ Huy Phó;
3 Lương Bùi Tùng-Vơ Khoa Nam Định- Đại Tá -Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng;
4 Nguyễn Đức Dung-Vơ Khoa Thủ Đức K5- Đại Tá -Tham Mưu Trưởng.
Phụ đề : Vụ Thảm Sát Cả Gia Đ́nh Trung Tá Thiết Giáp Nguyễn Tuấn
Trích từ tài liệu [25] & [26] :
Ngay trong đêm Mồng Một Tết (30 tháng một ) năm Mậu Thân 1968, tại khu vực G̣ Vấp, việt cộng tấn công Trại Cổ Loa và Trại Nỏ Thần của Pháo Binh và Trại Phù Đổng của Thiết Giáp.
Khi tấn công vào Pháo Binh, bọn chúng đă bị giáng cho một đ̣n rất nặng. Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh đă từ Trại Nỏ Thần dùng đại bác 105 trực xạ sang cả Trại Cổ Loa khiến địch quân tại hai nơi này chết như rạ.
Tuy nhiên, tại Trại Phù Đổng th́ t́nh h́nh khác hẳn.
Tấn công Trại Phù Đổng cộng quân gồm có ba thành phần :
Thứ nhất là một đại đội của đơn vị đặc công F-100 do tên Nguyễn Văn Lém biệt hiệu Bảy Lớp (Lốp?) chỉ huy. Tên Bảy Lớp là một thượng uư của đơn vị đặc công thành F-100. Đây là đơn vị khủng bố đầu tiên được Liên Xô huấn luyện và áp dụng chiến thuật của Liên Xô thường áp dụng trong thành phố. F-100 đă thực hiện chiến thuật này lần đầu tiên tại Nhà hàng Mỹ Cảnh ngày 25 tháng 6 năm 1965. Có tổng cộng 43 người thiệt mạng trong vụ này.
Thành phần thứ hai là một đơn vị tác chiến.
Thành phần thứ ba là các tài xế chiến xa thuộc Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới R .
Chúng đánh ngay vào cổng chính và xâm nhập Trại dễ dàng, bởi v́ hệ thống pḥng thủ của Trại sơ sài, bên trong chỉ có Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp với khoảng 40 quân nhân vừa cư ngụ tại chổ và vừa phụ trách canh gác.
Khi xâm nhập Trại, chúng bắt quân nhân và gia đ́nh tập trung và khi rút quân chúng đă tàn sát.
Nạn nhân đầu tiên bị chúng tàn sát là Trung Tá Huỳnh Ngọc Diệp và gia đ́nh, bị chúng bắn chết hết tất cả ngay tại chỗ.Sau dó chúng kéo sang nhà Trung Tá Nguyễn Tuấn.
Theo như kế hoạch th́ chúng sẽ đánh cướp những chiến xa trong Trại Phù Đổng để về tấn công Sàig̣n. Nhưng mưu đồ này hoàn toàn thất bại bởi v́ :
Theo tài liệu [25] : Trước kia Trại này có để một số thiết giáp mới, nhưng sau đó không c̣n nửa v́ đă bổ sung cho các đơn vị cả.
Mặt khác theo tài liệu [26] : Trung Tá Nguyễn Tuấn nhất định không chỉ cho chúng các mă số để điều khiển chiến xa hầu hết c̣n mới ở trong trại.
Ở đây, chúng ta cũng cần biết rơ thêm về mă số trên những chiếc chiến xa M-41.
Chiến xa M-41 tuy được sản xuất lần đầu vào năm 1951 nhưng những chiếc đem sang Việt Nam vào đầu năm 1965 thuộc Model M-41A3 với nhiều cải tiến. Pháo tháp của nó quay bằng điện thay v́ thuỷ điều, động cơ của nó có hệ thống phun xăng (Mechanical Fuel Injection) thay v́ bộ chế hoà khí (Carburettor). Không biết cách thức th́ không thể nào nổ máy được và không biết không làm theo như đă cài đặt th́ cũng không thể nào cho pháo tháp xoay chuyển phù hợp với tầm tác xạ của khẩu đại bác được. V́ thế, tên Bảy Lớp và đồng bọn ép Trung Tá Nguyễn Tuấn chỉ dẫn cách sử dụng nhưng ông nhất mực từ chối. Chúng căm hận giết chết cả nhà, kể cả thân mẫu Trung Tá Nguyễn Tuấn đă gần 80 tuổi. Người duy nhất trong gia đ́nh thoát chết là một bé 10 tuổi đêm đó ngủ ở nhà một người khác.
Đứa bé này tên là Nguyễn Từ Huấn . Sau 1975 theo chú ruột là Đại Tá Nguyễn Tú di tản sang Hoa Kỳ tỵ nạn cộng sản. Sau này vào năm 2019 ,ông Nguyễn Từ Huấn được vinh thăng Phó Đề Đốc (Chuẩn Tướng) Hải Quân Hoa Kỳ
Sau khi tàn sát gia đ́nh Trung Tá Nguyễn Tuấn, Bảy Lớp cùng đồng bọn đem tất cả những người c̣n lại ra góc trại và bắn chết hết. Sau đó, bọn chúng chạy về Chợ Lớn.
Từ lúc đó cho đến khi bị bắt, Bảy Lớp đă tàn sát gần 40 người khác nữa mà cũng hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Theo phóng viên Neil Davis của Úc (đă qua đời năm 1992) th́ Bảy Lớp đă tự tay giết chết trọn gia đ́nh của một sĩ quan cảnh sát. Trong số này, có một đứa bé mà Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan nhận đỡ đầu.
Đến sáng mùng 2 Tết Mậu Thân,tên Bảy Lớp bị bắt tại trận trong lúc sát hại dân lành trên đường Lư Thái Tổ, Ngă Bảy-Sài g̣n. Hắn được ThiếuTướng Nguyễn Ngọc Loan cho đi chầu bác nó.
Theo tài liệu [25] : Các Trại Phù Đổng và Cổ Loa được quân đội quốc gia chiếm lại vào lúc 18 giờ 30 ngày mổng 3 Tết-Mậu Thân .
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .
3. https://tunhan.wordpress.com/2014/05/21/tuong-nho-ngon-doi-tang-nhon-phu/
Nguyễn Qúy Đại – Tưởng nhớ ngọn đồi Tăng Nhơn Phú ! -Posted on Tháng Năm 21, 2014-Thủ Đức một thời khó quên.
4. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức.
5. https://www.facebook.com/DuongtamdienCamau/posts/qu%C3%A2n-l%C6%B0%CC%A3c-vi%C3%AA%CC%A3t-nam-c%C3%B4%CC%A3ng-ho%CC%80avinh-danh-t%C6%B0%C6%A1%CC%89ng-nh%C6%A1%CC%81-chi%C3%AA%CC%81n-si%CC%83-anh-hu%CC%80ngthi%C3%AA%CC%81t-g/1457599993032193/ DTKCamau -2 février--Vương Hồng Anh-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Vinh Danh-Tưởng Nhớ Chiến Sĩ Anh Hùng Thiết Giáp QL/VNCH-Lược Sử Thiết Giáp Binh- QL/VNCH .
6. https://haisu.org/LuocSuTBB.htm Lược sử Trường Bộ Binh-Hồ Đắc Huân -Cựu SVSQ Khóa 2 Nhân Vị Nha Trang.
7. https://hon-viet.co.uk/NguyenDinhPhuc_LucLuongThietGiapVietNamCongHoa.htm Lực Lượng Thiết Giáp Việt Nam Cộng Hoà- Việt Nam Cộng Hoà.
8. https://thietgiapbinhvnch.com/truongthietgiap.php Trường Thiết Giáp - Kỵ Binh QLVNCH.
9. https://nhayduwdc.org/st/hhqlvnch/hhtg/ndwdc_st_hhqlvnch_hhbctg_2013SEP02.htm Huy Hiệu Binh Chủng Thiết Giáp QLVNCH .
10. https://vnin21.blogspot.com/2014/07/cac-vi-chi-huy-truong-thiet-giap-binh.html Mittwoch, 16. Juli 2014 .
11. https://vi.wikipedia.org/wiki/Binh_ch%E1%BB%A7ng_Thi%E1%BA%BFt_gi%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Binh Chủng Thiết Giáp Việt Nam Cộng Ḥa .
12. https://linhvnch.wordpress.com/thiet-giap-ky-binh-vnch/ Thiết Gíap Kỵ Binh VNCH
13. https://nhacxua.vn/nho-ve-nga-6-phu-dong-thien-vuong-o-trung-tam-do-thanh-sai-gon-xua/ Nhớ về Ngă 6 Phù Đổng Thiên Vương ở trung tâm đô thành Sài G̣n xưa .
14. https://www.facebook.com/saigonvivu.Official/posts/ng%C3%A3-s%C3%A1u-ph%C3%B9-%C4%91%E1%BB%95ng-c%C3%B2n-g%E1%BB%8Di-l%C3%A0-ng%C3%A3-s%C3%A1u-ph%C3%B9-%C4%91%E1%BB%95ng-thi%C3%AAn-v%C6%B0%C6%A1ng-ho%E1%BA%B7c-ng%C3%A3-s%C3%A1u-s%C3%A0i-g%C3%B2n-l%C3%A0/4302019016513738/ Ngă sáu Phù Đổng-28 Septembre 2021.
15. https://nhayduwdc.org/nh/hk/f_ThietGiapBinh_HanhKhuc.pdf
16. https://vietbao.com/a73122/luoc-su-thiet-giap-vnch-thoi-hinh-thanh-51-60-Lược Sử Thiết Giáp VNCH-Thời H́nh Thành 51-60 - Vương Hồng Anh -15/12/1999.
17. https://fr.wikipedia.org/wiki/M8_Howitzer_Motor_Carriage M8 Howitzer Motor Carriage.
18. https://www.fdmuseum.org/exhibit/m24-chaffee-tank/ M24 Chaffee Tank.
19. https://bienxua.wordpress.com/2021/08/15/ky-binh-phu-dong-bai-6-tran-ly/
Kỵ binh Phù đổng (Bài 6) – Trần Lư - Thiết giáp VNCH 1963-1964 -(Thiết giáp và Chính trị VNCH)-Trần Lư - Posted by bienxua on August 15, 2021.
20. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .
21. https://www.facebook.com/HHTQSVN/posts/m48a3-c%E1%BB%A7a-vnch-%E1%BB%9F-qu%E1%BA%A3ng-tr%E1%BB%8B-n%C4%83m-1972tr%C3%AAn-chi%E1%BA%BFn-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%C3%BAc-%C4%91%C3%B3-m48a3-l%C3%A0-con-t%C4%83ng-ch/775816591635074/ ội Hóng Tin Quân Sự Việt Nam và Thế Giới 14 août 2025 - M48A3 của VNCH ở Quảng Trị năm 1972 .
22. https://vi.wikipedia.org/wiki/M48_Patton M48 Patton.
23. https://www.nguoivietdallas.com/lich/k-binh-qun-lc-vit-nam-cng-ha-v-nhng-trn-xa-chin-ma-h-la-1972 Phạm Phong Dinh - Kỵ binh quân lực Việt Nam Cộng Ḥa và những trận xa chiến mùa hè đỏ lửa 1972.
24. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_H%E1%BB%AFu_%C4%90%E1%BB%A9c Trương Hữu Đức.
25. Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa của việt cộng Mậu Thân 1968-Khối Quân Sử-Pḥng 5-Bộ Tổng Tham Mưu-Tháng 8, năm 1968.
26. https://nguoivietboston.com/?p=3559 Vụ Thảm Sát Cả Gia Đ́nh Trung Tá Thiết Giáp Nguyễn Tuấn Hồi Tết Mậu Thân 1968 - FB Khiet Nguyen – Postesd by Hoàng Hiếu -06/08/2019 .
24- Trường Thông Vận Binh (Quân Xa) - Thủ Đức-Tỉnh Gia Định
Theo tài liệu [1] : Vào cuối năm 1955, các lớp huấn luyện chuyên môn như Quân Cụ, Quân Chánh, Thông Vận Binh, Thiết Giáp Binh, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin... lần lượt trở thành các trường chuyên môn, phụ trách huấn luyện cán bộ các cấp, từ hàng binh sĩ cho đến sĩ quan, thuộc binh sở hay binh chủng. Nhưng các trường hay lớp huấn luyện chuyên môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ Huy Trường Sĩ Quan Trừ Bị.
Vào đầu năm 1957 (cuối tháng 2 năm 1957 theo tài liệu [2]), Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tái hoạt động được đổi tên thành Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm có 8 quân trường trong đó có Trường Thông Vận Binh (Quân Xa) .
Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, ngoài sĩ quan bộ binh, c̣n đào tạo sĩ quan Thiết Vận, Quân Chính, Quân Cụ, Quân Nhu, Quân Y, Dược, Truyền Tin, Công Binh, Thông Vận Binh (Xa Binh) . Thời gian huấn luyện là 38 tuần .
Ngoài tài liệu [1] này , trên mạng , tin tức về Trường Thông Vận Binh (Quân Xa) như địa điểm, năm thành lập, tổ chức, chương tŕnh huấn luyện… gần như không có, xin các bực thức giả bổ túc thêm. Xin đa tạ.
Để hiểu biết thêm về nghành Quân Xa , xin ghi thêm sau đây sơ lược thành lập Tổng Cục Tiếp Vận trích từ tài liệu [3]
Quân Vận (1951-1975), là một đơn vị chuyên ngành trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Ngành này thuộc quyền điều hành trực tiếp của Tổng Cục Tiếp Vận và trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Ngành Quân vận có nhiệm vụ vận chuyển tất cả các thành phần quân cụ, khí cụ... và là phương tiện chủ yếu để vận chuyển quân nhân mọi thành phần trong Quân Đội, đặc biệt di chuyển các đơn vị tác chiến thay đổi vùng miền hoạt động v. v...
Tóm lại, trong Quân Đội không thể thiếu ngành Quân vận. Ngành đă phát triển cùng với sự lớn mạnh của Quân Lực, luôn sẵn sàng và kịp thời hỗ trợ Quân đội. Ngành đă luôn hoàn thành tốt trách vụ được Bộ Tổng Tham Mưu giao phó cho đến ngày cuối tháng 4 năm 1975.
Thánh Tổ nghành Quân Vận : Vua Quang Trung .
Ngày 1 tháng 5 năm 1951, mỗi Quân khu đều thành lập 1 Đại đội Vận tải. Đơn vị này là tiền thân của Ngành Quân Vận sau này.
Đến năm 1954, toàn ngành h́nh thành cơ quan đầu năo có danh xưng mới là Bộ Chỉ Huy Xa Binh, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia.
Đến giữa năm 1956, Bộ chỉ huy Xa binh được đổi tên thành Bộ Chỉ Huy Thông Vận Binh, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quâ Đội Việt Nam Cộng Ḥa .
Trung tuần tháng 6 năm 1964, một lần nữa ngành được đổi thành Nha Quân Vận và vị sĩ quan trách nhiệm điều hành toàn ngành được gọi với chức danh Giám đốc. Đến tháng 11 cùng năm, khi Tổng Cục Tiếp Vận được thành lập, ngành được đổi tên lần cuối cùng thành Cục Quân Vận, trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận trong Bộ Tổng Tham mưu và chức danh Giám đốc đổi thành Cục Trưởng.

Phù hiệu Cục Quân Vận t́m thấy trên mạng
Cục Quân Vận được tổ chức như sau:
A -Bộ Tham Mưu gồm có:
-Cục trưởng, Cục phó, Phụ tá Cục trưởng và Tham mưu trưởng .
B -Các sở:
-Nhân huấn, Chuyển vận, Tài chính, Khối Thanh tra và Pḥng Chiến tranh Chính trị.
C -Trực thuộc quyền chỉ huy và điều động của Cục Quân vận c̣n có:
-Hỏa xa quân đội ;
-Liên đoàn 10 vận tải;
-Căn cứ chuyển vận Sài G̣n;
-Giang đoàn 306 sửa chữa;
D -Các Bộ chỉ huy Quân vận Vùng:
-Quân vận 1 tại Đà Nẵng ;
-Quân vận 2 tại Quy Nhơn;
-Quân vận 3 tại Nha Trang;
-Quân vận 4 tại Cần Thơ;
-Quân vận 5 tại Long B́nh, Biên Ḥa.
Giám đốc, Cục trưởng qua các thời kỳ
1 Trần Văn Xội-Vơ Bị Địa Phương Nam Việt Vũng Tàu-Thiếu Tá-Chỉ Huy Trưởng (1954-1964),Giám đốc (1964) ,Cục Trưởng (1964-1972)-Tại chức :1954-1972-Là chỉ huy trưởng với thời gian lâu nhất. Trong thời gian tại nhiệm, được thăng cấp Trung tá (1962), Đại tá (1968). Năm 1972, ông được giải ngũ;
2 Lê Quư Đỏ-Vơ Bị Đà Lạt K5-Đại Tá-Cục Trưởng-1972-1973;
3 Trần Thiện Thành- Đại Tá-Cục Trưởng-1973-1975;
4 Nguyễn Tử Khanh-Vơ Khoa Thủ Đức K1- Đại Tá-Cục Trưởng-1975 .
Tài liệu tham khảo :
1. https://www.nhayduwdc.org/ls/qlvnch/qt/td/2019/ndwdc_ls_qlvnch_qt_td_tsTSQTBTD_2019JUL24_wed.htm Tiểu Sử Trường Bộ Binh Thủ Đức – QLVNCH .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_B%E1%BB%99_binh_Th%E1%BB%A7_%C4%90%E1%BB%A9c Trường Bộ Binh Thủ Đức .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_v%E1%BA%ADn_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Quân Vận Việt Nam Cộng Ḥa .
25- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm - Đà Nẵng- Quảng Nam
Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm (TTHLQG Ḥa Cầm) được kể ra như sau trong tài liệu [1] & [2] :
Trong kế hoạch hiện đại hóa Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm trực thuộc quyền điều động của Tổng Cục Quân Huấn,Bộ Tổng Tham Mưu, cùng với các Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia khác trên 4 Vùng Chiến Thuật :
1. Vùng 1 Chiến Thuật : TTHLQG Đống Đa ở Huế và TTHLQG Ḥa Cầm;
2. Vùng 2 Chiến Thuật :TTHLQG Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Ḥa, Khánh Ḥa (Nha Trang) và TTHLQG Phù Cát và TTHLQG Pleiku (Trường Sơn) ;
3. Vùng 3 Chiến Thuật : TTHLQG Quang Trung và TTHLQG Vạn Kiếp ;
4. Vùng 4 Chiến Thuật: TTHLQG Chi Lăng ở tỉnh lỵ Châu Đốc (gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là TTHL Thất Sơn) và TTHLQG /Cao Lănh .
Điều đáng tiếc là hai tài liệu kể trên không có ghi một chi tiết nào về Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm .
Trên mạng, các tin tức về Trung Tâm này gần như không có, TM chỉ t́m thấy ba tài liệu [3] & [4] & [5] , tạm gọi là có một chút liên quan tới chủ đề :
Theo tài liệu [3] : Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm tọa lạc tại Đà Nẵng , huấn luyện và đào tạo quân nhân địa phương cấp binh sĩ các Tiểu khu thuộc Vùng 1 Chiến Thuật và huấn luyện bổ túc cho các đơn vị chủ lực trực của Vùng 1.
Theo tài liệu [4] : Ngày 06 tháng 5 năm 1960, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội ở Ḥa Cầm, xă Ḥa Sơn, quận Ḥa Vang, tỉnh Quảng Nam (hướng Tây thành phố Đà Nẵng khoảng 12 cây số ) và Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội Sông Mao (Chợ Lầu), xă Hải Ninh, quận Bắc B́nh, tỉnh B́nh Thuận (hướng Bắc Sàig̣n chừng 275 cây số) được bắt đầu thiết lập để phụ trợ với Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội Đồng Đế.
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Ḥa Cầm do Thiếu tá Chương Phát Dưỡng làm Chỉ Huy Trưởng- Giữa tháng 8 năm 1960, Thiếu tá Lê Tích Thiếu, Khóa 1 BĐQ, thay thế làm Chỉ Huy Trưởng ;
Sĩ quan huấn luyện gồm có :
Đại Úy Nguyễn Văn Đại : Trưởng toán;
Đại Úy Trần Văn Hai : Phó toán;
Đại Úy Vơ Công Trí;
Đại Úy Nguyễn Hoành Bảo;
Đại Úy Cao Quốc Điền;
Đại Úy Cao Văn Chơn;
Trung Úy Nguyễn Văn Xiển;
Trung Úy Nguyễn Kim Biên;
Trung Úy Phạm Quang Văn;
Trung Úy Nguyễn Văn Vy;
Trung Úy Hoàng Tôn Oai.
Hầu hết
các sĩ quan Việt Nam đă nêu trên đều tốt nghiệp
các khóa về BĐQ ở Trường Ranger tại Fort
Benning, tiểu bang Georgia–Hoa Kỳ trong các năm 1958, 1959 và
1960.
Toán cố vấn huấn luyện của Liên Đoàn 77 Lực
Lượng Đặc Biệt ỏ Ḥa Cầm gồm có
:
Trưởng Toán Thiếu tá Melbourne G. Slade, người kế nhiệm là Thiếu tá John Warren của Liên Đoàn 1 Lực Lượng Đặc Biệt ;
Đại Úy James W. Jones;
Đại Úy Hall W. Crimmelt;
Đại Úy Rudolph R. Kaiser;
Trung Úy Gerald M. Wynn;
Thượng Sĩ James W. Schumacher;
Thượng Sĩ Wiley W. Ray;
Trung Sĩ Thomas J. Wood;
Trung Sĩ Earl S. Flowers : Y tá;
Đại Úy Snyder : Quân báo;
Trung sĩ Walter (Tâm lư chiến).
Ngày 01 tháng 7 năm 1960, Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa chính thức thành lập một binh chủng mới với danh xưng Biệt Động Quân.
Ngày 01 tháng 8 năm 1961, trước sự thành công trên chiến trường của những đại đội Biệt Động Quân, nhu cầu cần có thêm nhiều đại đội như vậy ở các quân khu, một Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân quy mô hơn được thành lập ở Dục Mỹ vào ngày tháng nêu trên để đáp ứng nhu cầu này.
Dựa theo tài liệu [4] : Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Ḥa Cầm thành lập vào năm 1960 có thể là tiền thân của Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm.
Những chi tiết khác về trường sở, tổ chức ,chương trinh huấn luyện, khóa binh,thành quả… của Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Ḥa Cầm không được rơ. Xin các bực thức giả bổ túc thêm-Xin đa tạ .
Theo tài liệu [5] : Ngày 28 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản Hà Nội mở cuộc tấn công vào Đà Nẳng .Lúc này, hơn 3.000 binh sĩ quốc gia tại Trung Tâm Huấn Luyện Hoà Cầm, Đà Nẵng bị giặc cộng tuyên truyền xúi dục, làm binh biến đă tan ră ( Trung Tâm ?) .
1. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn KIếp.
2. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN QUỐC GIA VẠN KIẾP VÀ GIỜ “THỨ 25” CỦA TÔI-Nguyễn Vân Xuyên -Posted by bienxua on January 11,2025.
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa-Quân Trường Ḥa Cầm .
4. http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa- Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam-BĐQ Đỗ Như Quyên (Ranger Charlie Brown Phuong) .
5. https://cand.com.vn/Phong-su-tu-lieu/Nho-mai-ngay-chien-thang-i345998/ Nhớ măi ngày chiến thắng - T.Thành - A. Rô - 29/03/2015 .
26- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Sông Mao - B́nh Thuận
Trước nhứt xin sơ lược lịch sử ,địa lư, nhân văn khu vực Sông Mao trích từ tài liệu [1] & [2] viết bởi hai cựu quân nhân đă đồn trú ở đây và tài liệu [3] bởi một cư dân của Sông Mao .
Theo tài liệu [1] : ‘’ Sông Mao là một thị trấn nhỏ c̣n có tên nghe mỹ miều hơn : Quận Hải Ninh hoặc quận Phan Lư Chàm .
Từ ngă ba Phan Lư nằm trên quốc lộ 1 đi vào hơn 3 cây số là quận lỵ. Dân số phần đông là thân nhân của những quân nhân thuộc Sư Đoàn Nùng từ miền Bắc di cư vào trấn đóng trước đó mang theo. Sư đoàn này là tiền thân của Sư đoàn 5 sau này. Ngoài khu ven chợ Sông Mao, thị trấn chỉ có những con đường nhỏ có những căn nhà trệt một hoặc hai lầu. Dân số không đông phần lớn là người Hoa vùng Móng Cáy -Bắc Việt di cư vào Nam sau hiệp định Genève năm 1954 .
Phía bắc
đông bắc là ngọn núi Bèo cao độ 632 mét, cây
thưa vách đá dựng. Tây bắc là ngọn Cà Tăng thấp
hơn, cao độ trung b́nh 600 mét. Nước từ trên
các cao độ này theo đường thông thủy chảy
vào Sông Mao theo hướng tây bắc đông nam. Mang tiếng
là sông nhưng nước lúc nào cũng cạn lắm, giống
như một con suối lớn th́ đúng hơn.
Nói chung thị trấn có phong cách của một khu trại
lính hơn là một thị trấn b́nh thường. Trên phố
xá lính luôn nhiều hơn dân. Thị trấn luôn làm cho
người ta quên đi nếp sống b́nh thường thoải
mái đáng lẽ nên có của một nơi dựa lưng
vào núi ngoảnh mặt ra biển như nơi đây.
Quán ăn ngon nhất của Sông Mao là quán Kỳ Hương, nổi tiếng với hai món đặc sản bồ câu quay và chân gị heo hầm .
Vào tháng 4 năm 1982, trên chuyến tầu xuôi Nam sau cùng chở đoàn tù “cải tạo” từ miền Bắc về Nam, tôi ( tác giả tài liệu [1] ) đă cố gắng không ngủ để cố nh́n lại Sông Mao sau 10 năm xa cách.
Khi đoàn tầu chạy ngang qua thị trấn, những dấu vết binh lửa một thời hầu như c̣n nguyên vẹn không đổi thay theo thời gian. Vẫn những dẫy doanh trại quân đội lợp tôn nay đă loang lổ xét rỉ hoặc trốc mái xiêu vẹo. Vẫn những ṿng kẽm gai bị cỏ dại mọc phủ trùm. Một vài bóng người quần áo rách rưới đội nón mê mang quang gánh trên vai đi lại. Một h́nh ảnh thật buồn. Đoàn tàu chạy chầm chậm khi băng qua thị trấn.
H́nh ảnh một Sông Mao ngày nào mang dấu ấn của bao nhiêu kỷ niệm cứ ám ảnh tôi măi trên suốt lộ tŕnh c̣n lại trước khi đoàn tầu dừng hẳn gần trại Z30A đễ tôi tiếp tục cuộc sống ở đó thêm 6 năm nữa ‘’.
Theo tài liệu [2] : ‘’ Đầu năm 1969, Trung Đoàn 44 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu chọn làm đơn vị thí điểm cho Kế Hoạch Chân Trời Mới của Quân Đoàn II/ Vùng 2 Chiến Thuật. Một kế hoạch qui mô nhằm củng cố và phát triển mọi mặt để đưa Trung Đoàn trở thành một trong những đơn vị vững mạnh, thiện chiến của QLVNCH, làm mẫu mực cho các đơn vị khác, hầu đáp ứng t́nh h́nh chiến tranh ngày một leo thang. Cộng sản Bắc Việt ào ạt đưa đại quân xâm nhập Nam Việt Nam qua đường ṃn Hồ Chí Minh (Sic) , trước dấu hiệu Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Ḥa, qua chiêu bài Việt Nam Hóa Chiến Tranh.
Trung Đoàn 44 BB đồn trú tại trại Lư Thường Kiệt, Sông Mao. Bản doanh của Sư Đoàn 5 BB, từ thời Đại tá Tư Lệnh Vọng A Sáng, bàn giao lại để di chuyển vào Vùng 3 Chiến Thuật.
Sông Mao là một thị trấn nhỏ nằm phía Bắc Phan Thiết khoảng 70 cây số, cách Quốc Lộ 1 về hướng Tây gần 2 cây số. Hầu hết dân chúng ở đây là người Nùng, đă từng theo chân đại tá Vọng A Sáng và Sư Đoàn 3 Dă Chiến từ vùng Mống Cái vào đây sau Hiệp Định Genève năm 1954, để sau đó biến cải thành SĐ5 Bộ Binh , một trong những sư đoàn đầu tiên và thiện chiến của thời Đệ Nhất Cộng Ḥa.
Phía dưới, về hướng Đông, nằm dọc theo Quốc Lộ 1 là quận Phan Lư Chàm (Chợ Lầu). Dân chúng đa số là người Chàm. Có cả dinh cơ của bà công chúa cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành, với đền thờ vua, cờ xí, long bào, và ấn tín.
Cách đó không xa là mật khu Lê Hồng Phong (Sic) rộng lớn nổi danh của việt cộng . Phía trên là dăy Trường Sơn với mật khu Bá Ghe, nơi trú ẩn của một số đơn vị việt cộng địa phương .
Đây là một vùng khô cằn sỏi đá. Mùa hè, nắng cháy, thỉnh thoảng có vài ngọn gió Nam thổi đến, xoáy theo những đám bụi mù trời.
Bản doanh đặt tại một thị trấn đ́u hiu, c̣n có tên là “thị trấn của lính”, đơn vị c̣n đảm trách cả một vùng hành quân rộng lớn từ khu núi rừng trùng điệp cho đến những đồng bằng bao la ven biển, trong đó có nhiều mật khu nổi danh của địch’’.
Theo tài liệu [3] : ‘’Thị trấn Sông Mao, c̣n là quận lỵ của Quận Hải Ninh, nằm ở phía Bắc Tỉnh B́nh Thuận, trước đây chỉ là một vùng đất hoang vắng, rừng núi thâm u, đầy sơn lam chướng khí và thú dữ rắn độc, được khai phá, xây dựng, thành lập và phát triển từ năm 1954 do công sức tập thể của đồng bào di cư từ Tỉnh Hải Ninh (nay thuộc Tỉnh Quảng Ninh-Bắc Việt).
Khí hậu Sông Mao quanh năm nắng gay gắt, tuy cũng có hai mùa, nhưng không được rơ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, nhưng lượng mưa rất ít, thường không đáng kể; mùa nắng bắt đầu từ khoảng tháng 11 đến tháng 4, thời tiết nóng và khô, oi bức, khó chịu. Gió lốc thổi mạnh vào những tháng đầu năm, khiến đường phố mịt mù đầy cát bụi.
Sông Mao có diện tích khá rộng lớn, đất hoang nhiều, nhưng cằn cỗi, khô khan v́ thiếu nước cung ứng, tuy cách thị trấn 8 cây số hướng Tây Bắc, có con sông Cà Giây và ngay ở vùng ngoại ô thị trấn, cũng có hai con suối và sông Ma-Ó chảy qua, nhưng đều trở nên khô cạn hoặc mực nước xuống rất thấp vào mùa nắng. Chính vấn đề khan hiếm nước này không những đă tạo bất tiện lớn trong sinh hoạt hàng ngày của dân làng, đồng thời c̣n gây khó khăn trầm trọng cho công việc trồng trọt, nghề chính của đại đa số dân địa phương !
Ngoài ra, vị trí Sông Mao c̣n nằm ở chốn khuất nẻo xa xôi, sát rừng núi, xa bờ biển, tuy trong thị trấn có ga xe lửa Nam Bắc (bỏ hoang trong thời chiến), nhưng lại không gần quốc lộ, nên việc di chuyển không được hoàn toàn lư tưởng .
Bị giới hạn bởi những điều kiện khách quan bất lợi kể trên, hoàn cảnh sinh sống ở Sông Mao v́ vậy rất khó khăn và khắc nghiệt, nên dân cư thưa thớt, kinh tế lạc hậu, mức sống của đại đa số dân địa phương đều thấp kém và thiếu thốn. Tuy vậy, người dân Sông Mao, vốn hiền lành, chất phác và an phận, mặc dầu phải đương đầu với sự khắc khe của hoàn cảnh sinh sống, vẫn kiên nhẫn chịu đựng, cố gắng làm việc để nâng cao mức sống và chấp nhận Sông Mao như một mảnh đất cưu mang, một quê hương yêu dấu thứ hai của ḿnh.
Gia đ́nh tôi (tác giả tài liệu [2] ) từ lâu cư ngụ tại Móng Cái, một thành phố nhỏ của Tỉnh Hải Ninh (Bắc Việt), sống bằng nghề tiểu thương, nhà không quyền quư và cũng không ai khoa bảng, cuộc sống chật vật nhưng vẫn c̣n được yên ổn.
Năm 1954, sau khi Hiệp Định Đ́nh Chiến được kư kết tại Genève để chia đôi đất nước ở vi tuyến 17, gia đ́nh tôi, cũng như bao gia đ́nh bất hạnh khác, đă bỏ lại quê cha đất tổ, ruộng vườn nhà cửa, di cư vào Nam, trải qua một thời gian dài lưu lạc, nay đây mai đó, và sống trong một hoàn cảnh thiếu thốn, bấp bênh và kham khổ. Lúc đó, tôi tuy c̣n quá nhỏ chưa thấm thía được sự cay đắng và vất vả của cuộc sống mà gia đ́nh ḿnh đang vấp phải, nhưng vẫn biết tuổi thiếu thời của tôi, ít niềm vui và vắng nụ cười!
Trong hành tŕnh gian truân và đầy thử thách để mưu t́m một cuộc sống mới ở đất phương Nam, gia đ́nh tôi, cùng với nhiều gia đ́nh di cư khác, đă dừng chân lại tại thị trấn Sông Mao. Cha mẹ tôi, trong thuở ban đầu, đă phải một nắng hai sương, đầu tắt mặt tối, làm việc miệt mài, đồng thời c̣n phải chịu đựng, chấp nhận và đương đầu với mọi khó khăn và trở ngại để mong sớm ổn định để gây dựng lại một cuộc sống mới trên mảnh đất khô cằn này
V́ nợ sách đèn, ngày xưa, tôi bỏ thôn làng đến thành thị, nên xa cách Sông Mao khá lâu, nhưng h́nh ảnh quê nhà này không bao giờ phai nḥa theo năm tháng. Có thể nói, xa th́ có xa, nhưng nhớ th́ vẫn nhớ, h́nh bóng Sông Mao đă khắc sâu trong tiềm thức…
Tôi nhớ những con đường đất gồ ghề, khấp khểnh, bùn lầy khó đi; nhớ những căn nhà lá lụp xụp, lơ thơ, những túp lều tranh xơ xác, lác đác bên đường; nhớ những cánh đồng khô khan không được ph́ nhiêu bát ngát; nhớ những con suối chỉ có nước vài tháng trong mùa; nhớ dăy núi chênh vênh hùng vĩ, cây mọc chi chít; nhớ xóm làng vắng lặng về đêm, ánh lửa chập chờn; nhớ chuỗi ngày nắng cháy, không mưa lại gió, cát bụi che lối; nhớ hoàng hôn tan chợ, màn đêm chưa trải, phố vắng bóng người!
Tháng 6 năm 1978, tôi bỏ lại tất cả, người thân, người quen, nghề nghiệp…và một quê hương đau khổ, ra đi trong hấp tấp, hoang mang và hỗn loạn.
30 năm sau (2008 ?) , tôi về thăm quê :
Khi xe đi qua ngă ba Chợ Lầu - Ḥa Thuận, rẽ vào con đường nhỏ quen thuộc để hướng về thị trấn Sông Mao, mặc dầu c̣n ở khá xa, tôi đă nh́n thấy vùng ngoại ô của quê cũ Sông Mao thân thương sau hơn 30 năm xa cách.
Quê tôi ngày nay, ngoại trừ một số đường đất chính đă được tráng nhựa, có thêm một số nhà cửa được sửa sang lại, hoặc được xây cất mới ra, vẫn c̣n giữ y nguyên h́nh thù của năm xưa: Phố xá yên tĩnh, vắng vẻ, xe cộ, người đi ít ỏi, nhà cửa xiêu vẹo, đổ nát, cảnh vật xơ xác, tiêu điều, những dấu vết tồi tàn, cũ kỹ, những h́nh ảnh lụp xụp, rách nát vẫn c̣n tồn tại như xưa.
Tuy vậy, về mặt canh tác, nguồn thu nhập chính của dân địa phương, chính quyền đă xây cất xong hai đập nước Cà Giây và Đại Ninh quy mô, kiện toàn và hữu hiệu hóa hệ thống dẫn thủy nhập điền, nên việc cung cấp nước cho đồng ruộng đă hầu như được giải quyết, tạo điều kiện tốt cho việc phát triển nông nghiệp ở địa phương. Nếu làm việc cần cù và chăm chỉ, nhà nông có thể gặt hái được 3 vụ lúa trong năm, nhưng tiếc v́ kỹ thuật trồng trọt lạc hậu, năng suất vẫn chưa được nâng cao đáng kể, mặc dù sản lượng có phần tăng trưởng!
Về mặt công nghiệp, có lẽ v́ thiếu sự chú ư, hướng dẫn và giúp đỡ của các cơ quan chức năng địa phương, thêm vào người dân lại nghèo, không vốn đầu tư, các cơ sở sản xuất, chế biến, gia công v.v… đều chưa được thiết lập.
Về mặt thương nghiệp, các cửa hàng tiêu thụ rất hiếm, chỉ thấy tản mát một số quán nhỏ bán lẻ ngoài phiên chợ, tiệm ăn, nơi giải trí hầu như không có, nên ngành thương mại của thị trấn c̣n chưa được khả quan, vẫn c̣n sa sút nhiều, chưa hồi phục được quang cảnh bán buôn khá tấp nập của những năm tháng trước đây và rơ ràng đă bị các thị trấn lớn nhỏ lân cận vượt qua khá xa !
Nh́n chung, sau 35 năm ḥa b́nh phát triển, thị trấn Sông Mao, với khoảng 1.800 gia đ́nh và trên 10.000 nhân khẩu, đă có hệ thống điện nước và đường dây điện thoại phục vụ, đời sống được tiện nghi hơn và có phần sung túc hơn, điển h́nh nhất là những gia đ́nh được sự trợ giúp của người thân ở nước ngoài; Tuy nhiên, vẫn c̣n một số khá đông dân địa phương c̣n trong t́nh trạng nghèo nàn và túng thiếu, quần quật ngày đêm, làm việc không kiếm đủ ăn.
Tôi mừng được trở về, tuy hành tŕnh ngoài việc thăm quê cũ trường xưa ra, c̣n có phần gặp người thân, họp bạn, du lịch, tham quan v.v… nhưng thấy cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn của khá nhiều đồng hương, quang cảnh tiêu điều, tàn tạ của phố xá, tôi không tránh khỏi xót xa và thất vọng trong ḷng!
Ngẫm nghĩ câu “Vị lăo mạc hoàn hương, hoàn hương tu đoạn trường” [Chưa già đừng về làng, về làng đau đứt tràng] cũng chí lư lắm, nó nói lên tâm trạng bùi ngùi, thương đau của lăng tử lúc trở về, phũ phàng nh́n thấy quê cũ không đẹp như trong mộng ! Nhưng tôi không hiểu, quê nhà tôi không thua kém, dân làng tôi không lười biếng, cớ sao phải chịu khổ cực măi như thế này? ‘’.
Ngoài ra theo tài liệu [4] : Khu vực Sông Mao (thuộc
Hải Ninh, Bắc B́nh, B́nh Thuận) được chính
quyền quốc gia xây dựng để các sĩ quan, binh
lính sau mỗi đợt hánh quân về đây nghỉ
ngơi.
Chính quyền quốc gia lúc bấy giờ đă cho xây dựng khu vực Sông Mao thành nơi sầm uất .Nhiều khu nhà cao tầng, các biệt thự của lính quốc gia mọc lên nguy nga tráng lệ. Để thuận lợi cho việc đi lại, chính quyền quốc gia c̣n xây dựng sân bay, nhà ga, các con đường theo hệ thống “bàn cờ” chằng chịt.
Trước năm 1975, khu vực Sông Mao được ví như “Sài G̣n Hai”.
Ga Sông Mao là
trung tâm huyết mạch giao thông, v́ thế mà phố xá ở
đây luôn nhộn nhịp.

Ga Sông Mao ngày nay- Ảnh: Xuân Hướng-Trích từ tài liệu [4]
Ước tính ở Hải Ninh có 70% là dân tộc Hoa sinh sống, họ rất giỏi với việc buôn bán giao thương. Ẩm thực ở đây cũng có những nét rất đặc biệt.
Cách Hải Ninh không xa, khu Chợ Lầu c̣n sầm uốt hơn rất nhiều. Đời sống của các gia đ́nh ở đây đa số đều khá giả, phần lớn là sĩ quan và thương nhân. Cái tên “Chợ Lầu” có lẽ hàm ư của nó là vùng đất của những khu nhà lầu và khu vực giao thương buôn bán, nhộn nhịp chẳng khác mấy so với Sài G̣n.
Sau năm 1975, khu vực Chợ Lầu trở thành thị trấn Chợ Lầu.
Trên mạng, tài liệu viết về Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Sông Mao gần như không có . TM chỉ t́m thấy hai tài liệu [5] và [6].
Theo tài liệu [5] :
Ngày 06 tháng 5 năm 1960, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội Sông Mao (Chợ Lầu), xă Hải Ninh, quận Bắc B́nh, tỉnh B́nh Thuận (hướng Bắc Sàig̣n chừng 275 cây số) và Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội ở Ḥa Cầm, xă Ḥa Sơn, quận Ḥa Vang, tỉnh Quảng Nam (hướng Tây thành phố Đà Nẵng khoảng 12 cây số ) được bắt đầu thiết lập để phụ trợ với Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội Đồng Đế.
Nhân sự của Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quạn ở Sông Mao gồm có :
Đại Úy Đỗ Văn Sáu : Chỉ Huy Trưởng;
Đại Úy Hồ Văn Phước : Trưởng toán;
Đại Úy Trần Công Liễu : Phó toán;
Đại Úy Đào Vĩnh Th́;
Đại Úy Trần Hữu Toán;
Đại Úy Nguyễn Văn Ni;
Trung Úy Ngô Minh Hồng;
Trung Úy Quan Minh Tống;
Trung Úy Nguyễn Văn Sảo;
Trung Úy Phan Văn Cẩm.
Toán cố vấn huấn luyện Liên Đoàn 77, LLĐB ở Sông Mao :
Trưởng toán : Thiếu tá Kenneth R. Beard;
Đại Úy Jack Spital;
Đại Úy Reynold E. Price;
Trung Úy Freddie H. Boyd;
Thượng Sĩ Kenneth R. Chadwick; Vũ khí;
Trung Sĩ George D. Roraback;
Trung Sĩ Wylie H. Newton;
Trung Sĩ Earl M. Peckham;
Trung Sĩ Charles W. Allen;
Đại Úy Fuselier : Quân báo;
Trung Úy Perez : Tâm lư chiến.
Ngày 01 tháng 7 năm 1960, Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa chính thức thành lập một binh chủng mới với danh xưng Biệt Động Quân.
Ngày 01 tháng 8 năm 1961, trước sự thành công trên chiến trường của những đại đội Biệt Động Quân, nhu cầu cần có thêm nhiều đại đội như vậy ở các quân khu, một Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân quy mô hơn được thành lập ở Dục Mỹ vào ngày tháng nêu trên để đáp ứng nhu cầu này.
Cùng lúc đó, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Ḥa Cầm, Đồng Đế, Sông Mao, Thất Sơn (Chi Lăng) được giải tán để sáp nhập vào Trung Tâm chính ở Dục Mỹ.
Dựa theo tài liệu [5] , Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội Sông Mao có thể là tiền thân của Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Sông Mao.
Tài liệu [6] xác nhận Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Sông Mao ở tỉnh B́nh Thuận ,nguyên là Trung tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân; Sau là cơ sở huấn luyện và đào tạo quân nhân địa phương cấp binh sĩ các Tiểu khu phía nam duyên hải thuộc Vùng 2 Chiến Thuật .
Nhưng những chi tiết khác về năm thành lập ,trường sở, tổ chức ,chương trinh huấn luyện, khóa binh, thành quả… của Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Sông Mao không được rơ. Xin các bực thức giả bổ túc thêm-Xin đa tạ .
Tài liệu tham khảo :
1. http://batkhuat.net/van-songmao-ngaythangcu.htm Trường Bộ
Binh Thủ Đức- Khóa 8B+C/72 – Bất Khuất -Sông Mao,
ngày tháng cũ - (Mến tặng các chiến hữu trung
đoàn 44/SĐ23 BB) - Trung tá Xuân -Trung đoàn trưởng,
Trung đoàn 44, SĐ 23 -
(Trích Tâp san BĐQ số 33 : Sông Mao,…) .
2. Phạm Tín An Ninh-Câu Chuyện Về Một Nữ Quân Nhân, Và Những Lời Cám Ơn Chưa Kịp Nói .
3. http://www.chanphuocliem.com/DaMinhSongMao/VuongAnPhat_RiengMotGocTroi.asp Vương An Phát - Hôi Cựu Học Sinh - Trường Trung Học Đa Minh Sông Mao - Riêng Một Góc Trời -Trông Vời Quê Cũ Trường Xưa .
4. https://thanhtra.com.vn/xa-hoi/doi-song/Suc-song-moi-o-Song-Mao-103005.html Sức sống mới ở Sông Mao - Xuân Hướng- 02/05/2016 .
5. http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa- Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam – BĐQ Đỗ Như Quyên (Ranger Charlie Brown Phương).
6. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa-Quan Trường Sông Mao .
27-Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Trung Ḥa - Quận Củ Chi-B́nh Dương
Theo tài liệu [1] : Cuối tháng 4 năm 1960 (ngày 06 tháng 5 năm 1960 theo tài liệu [2] ),
để phụ trợ với Trung Tâm tại Đồng Đế-Nha Trang , hai (2) Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân mới được thành lập :
Một Ḥa Cầm tại Đà Nẵng để huấn luyện cho sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc Quân Đoàn I; Một tại Sông Mao tại B́nh Thuận huấn luyện cho sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Quân Đoàn III, và Quân Đoàn IV ;
Ngoài ra, c̣n có 2 Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân khác là Thất Sơn và Trung Ḥa, chuyên huấn luyện tác chiến cấp Đại Đội.
Hai tài liệu [1] & [2] không có ghi địa điểm của Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Thất Sơn. Theo các tin tức t́m thấy trên mạng, Thất Sơn, c̣n gọi là Bảy Núi, là một vùng núi thiêng ở miền Nam Việt Nam, thuộc các quận Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Thông thường th́ tên của một quân trường hay một Trung Tâm Huấn Luyện quân sự được đặt theo tên địa điểm , v́ thế Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Thất Sơn có thể nằm ở tỉnh An Giang.
Mặt khác,theo tài liệu [3] : Trong tỉnh Châu Đốc có Quân Trường Thất Sơn, trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn-Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa . Quân Trường này có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo quân nhân địa phương cấp binh sĩ các Tiểu Khu thuộc Quân Khu 4.
Và theo tài liệu [4] & [5] & [6] : Trong tỉnh lỵ Châu Đốc có Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng thành lập năm 1966. Trung Tâm này v́ nằm gần núi Thất Sơn, nên c̣n gọi là Trung Tâm Huấn Luyện Thất Sơn. Ban đầu, Biệt đội A-432 Liên Đoàn 5 Biệt Kích Mỹ sử dụng Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng làm Trại Biệt Kích Thất Sơn.
Do đó, Quân Trường Thất Sơn hay Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng có thể là hậu thân của Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Thất Sơn. Xin các bực thức giả bổ túc cho. Xin đa tạ .
Theo tài liệu [7] : Trung Tâm Huấn Luyện Trung Ḥa là một trung tâm huấn luyện bổ túc của Biệt Động Quân tọa lạc tại xă Trung Lập, quân Củ Chi, tỉnh B́nh Dương, hướng Tây Bắc cách trung tâm Sàig̣n khoảng 32 cây số.
Địa điểm này là một trọng điểm nằm giữa ba mật khu của việt cộng: Hố Ḅ, Bời Lời và G̣ Nổi An Nhơn Tây,lên tới Bến Súc Cánh Đồng Sổ Một (?) ,điạ danh từ thời Pháp đă kiêng dè.
Trung Tâm thường có từ 2 đến 3 đại đội Biệt Động Quân (BĐQ) biệt lập về học bổ túc để cập nhật theo t́nh h́nh chiến trường mỗi ngày một sôi động.
Trung Tâm có Ban Điều Hành, Huấn Luyện, có một Trung đội Công Vụ và một trung đội Pháo Binh súng cối106 ly (2 khẩu), yểm trợ trực tiếp cho các đơn vị hoạt động trong lănh thổ trách nhiệm. Thời gian này Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm là Đại Uư Trần Đ́nh Nại. Chỉ Huy Phó là Đại Uư Hoà (Hoà già) cùng với các sĩ quan Hoa, Cẩm, Sự, Đẹp, Vân, Hương Khôi.. c̣n một số nữa tôi (tác giả tài liệu [7] ) không nhớ tên.
Hơn nửa, theo tài liệu [2] : Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Trung Ḥa gồm có :
Đại Úy Trần Đ́nh Nai : Chỉ Huy Trưởng;
Sĩ quan huấn luyện :
Đại Úy Phạm Văn Phúc: Trưởng toán;
Đại Úy Hoàng Kim Thanh: Phó toán;
Đại Úy Nguyễn Văn Đương ;
Trung Úy Dương Kim Vân;
Trung Úy Lê Hưng Phú;
Trung Úy Nguyễn Thành Nguyên.
Trưởng toán cố vấn huấn luyện : Thiếu tá Thomas Anderson (?) .
Bộ Chỉ Huy và Kiểm Soát đặt ở Nha Trang. Những toán cố vấn Huấn Luyện Lưu Động (Mobile Training Team–MTT) ở Thất Sơn, Cần Thơ, Mỹ Tho, v.v. của Liên Đoàn 1, LLĐB do Đại tá Lewis Millet chỉ huy tổng quát, Bộ Chỉ Huy đặt tại Sàig̣n.
Theo tài liệu [7] : Đặc biệt, Trung Tâm Huấn Luyện Trung Ḥa có Thượng Sĩ Diệm là sĩ quan An Ninh . V́ nhu cầu chiến trường, các đại đội cơ hữu chưa thể tập trung nên phải nằm chờ đợi. Cũng trong thời gian này, một việc đáng tiếc đă xẩy tại BCH/TĐ: Thượng Sĩ Diệm là sĩ quan An Ninh, mật vụ cuả trung tâm đă mật báo về BCH/BĐQ: Đại uư Hạnh và các sĩ quan trong BCH/TĐ thay v́ ra mặt chống chính phủ, họ đă cho nghe đài BBC và tổ chức ăn chay trong đơn vị (Trước ngày đảo chánh 1/11/63). Chúng tôi (tác giả tài liệu [3]) đă đôi ba phen phải kéo nhau về tŕnh diện BCH/BĐQ, tŕnh diện Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng, Trung Tá Phan Xuân Nhuận và Đại úy Duệ trưởng pḥng An ninh của BCH/BĐQ. Rồi việc ǵ đến cũng phải đến, Đại Uư Hạnh đă được Đại Uư Nguyễn Phước Danh thay thế. Ngày 08/12/1963, tiểu đoàn đuợc tập trung tại Nhà Bè Sàigon để chuẩn bị di chuyển ra Nha Trang, rồi vào Trung tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ.
Những bạn nào đă một vài lần lui tới Trung Tâm để học bổ túc th́ không thể nào không biết đến tiệm bán hàng tạp hoá cuả ông xă trưởng Trung Lập. Ông bà chủ tiệm có hai cô con gái dễ thương và xinh xắn. Cô Tuyết và cô Cúc học ở Sàig̣n chỉ xuất hiện ở tiệm nhà trong những ngày thứ bảy, chủ nhật hay ngày lễ mà thôi. Kim Cúc và tôi (tác giả tài liệu [3] ) có thật nhiều kỷ niệm.
Từ Trung Tâm đến Quốc Lộ 1 có con đường đất đỏ chiều dài khỏang chừng 6 câ số Ngă Ba Phước Hiệp là điểm giao tiếp với quốc lộ. Một ngă rẽ lên Trảng Bàng (Tây Ninh), một ngă xuối về Sàigon. Đây là con đường huyết mạch nên luôn luôn có ḿn bẫy, bắn sẻ và phục kích. Đơn vị trực thuộc thay nhau hành quân mở đường để tiếp tế và liên lạc . Cố Đại Tá Trần Đ́nh Nại bị ám sát chết thảm tại chợ xă nằm cạnh Trung Tâm trong thời gian giặc cộng tổ chức tổng công kích, tổng nổi dậy Tết Mậu Thân.
Theo tài liệu [8] & [9] : Ngày 01 tháng 8 năm 1961, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa quyết định sáp nhập ba TTHL/ BĐQ Ḥa Cầm ,Sông Mao và Đồng Đế, để thành lập một Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ ở Khánh Ḥa.
Cũng thời gian này, TTHL/ BĐQ Trung Hoà và Thất Sơn được sát nhập thành TTHL/ BĐQ Trung Lập (Trung Ḥa ?) chuyên huấn luyện các Đại Đội và Tiểu Đoàn Biệt Động Quân. Đại Úư Trần Đ́nh Nại nguyên là Huấn Luyện Viên tại TTHL/ BĐQ Đà Nẵng được chỉ định giữ chức CHT TTHL/ BĐQ Trung Lập (Trung Ḥa ?) và Thiếu tá Tom Henry làm Cố Vấn Trưởng.

Cổng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Trung Ḥa- Năm không xác định-H́nh trích từ tài liệu [10]
Bảng hiệu trên cổng của h́nh cho thấy rơ ràng Trung Tâm Huấn Luyện này tên Trung Ḥa .
Theo tài liệu [11] : Đầu tháng 2 năm 1968, Trung Tá Trần Đ́nh Nại bị tử thương do việt cộng phục kích ở Củ Chi. Người kế nhiệm ông trong chức vụ này là Thiếu Tá Trương Văn Oành. Vào thời điểm này, theo tài liệu [10] & [11] : Trung Tâm TTHL/ BĐQ ở Trung Ḥa vẫn được duy tŕ cho mục đích huấn luyện bổ túc các đơn vị cấp đại đội biệt lập và tiểu đoàn sau này tại Quân Khu III và Quân Khu IV, đến tháng 12 năm 1968 th́ chính thức ngưng hoạt động. Kể từ đây những Tiểu Đoàn BĐQ ở Quân Khu III và Quân Khu IV khi học bổ túc đều phải ra Trung Tâm chính ở Dục Mỹ.
Tài liệu tham khảo :
1. https://linhvnch.wordpress.com/biet-dong-quan-vnch/ Biệt Động Quân VNCH .
2. http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa- Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam - BĐQ Đỗ Như Quyên (Ranger Charlie Brown Phương) .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh sách quân trường Việt Nam Cộng Ḥa .
4. https://www.facebook.com/media/set/?set=a.1990430837847177&type=3&comment_id=1990453904511537 Nguyễn Duy- Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp.
5. https://bienxua.wordpress.com/2025/01/11/trung-tam-huan-luyen-quoc-gia-van-kiep-va-gio-thu-25-cua-toi-nguyen-van-xuyen/ TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN QUỐC GIA VẠN KIẾP VÀ GIỜ “THỨ 25” CỦA TÔI-Nguyễn Vân Xuyên -Posted by bienxua on January 11,2025 .
6. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_gia_Chi_L%C4%83ng Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Chi Lăng.
7. https://hoiquanphidung.com/echo/truyen-linh/288-ti-u-doan-42-bi-t-d-ng-quan-c-p-ba-d-u-r-n-bdq-le-ng-c-b-u Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân - Cọp Ba Đầu Rằn - BĐQ Lê Ngọc Bửu .
8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Bi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%99ng_qu%C3%A2n_D%E1%BB%A5c_M%E1%BB%B9 Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ .
9. https://dongsongcu.wordpress.com/2021/09/14/biet-dong-quan-qlvnch-bdq-nguyen-kimbien/ ḍng sông cũ Biệt Động Quân QLVNCH – BĐQ Nguyễn Kim Biên -Posted on September 14, 2021 by dongsongcu .
10. https://www.facebook.com/groups/408554884368386/posts/1001509665072902/ Saigon Kỷ Niệm - Truc Tran- 20 novembre 2024 .
11. http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Biệt Đông Quân- Tổng Hội Ái Hửu Biệt Đông Quân Việt Nam .
28- Trường Tổng Quản Trị - Gia Định
Theo tài liệu [1] : Trường Tổng Quản Trị được thành lập vào năm 1960 tại tỉnh Gia Định. Trường thuộc Tổng Cục Quân Huấn, có nhiệm vụ Huấn luyện và đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về phương diện Quản trị nhân viên và Quản lư nhân sự cho các cấp sĩ quan, hạ sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Khẩu hiệu của Trường là : Danh Dự-Trách Nhiệm .
Theo tài liệu [2] : Trường Tổng Quản Trị trực thuộc Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu.
V́ vậy để cho tài liệu được đầy đủ xin ghi thêm sau đây lược sử thành lập Pḥng Tổng trích từ tài liệu [2]
Pḥng Tổng Quản Trị là một cơ quan tham mưu chuyên ngành đồng thời cũng là một trong 7 pḥng nằm trong bộ phận đầu năo (gồm các pḥng: 1, 2, 3, 5, 6, 7 và Tổng Quản Trị) của Bộ Tổng Tham Mưu. Pḥng Tổng Quản trị được tách ra từ Pḥng 1 để đảm trách việc điều hành, nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các thủ tục liên quan đến lĩnh vực "Quản trị Nhân viên" từ Bộ Quốc Pḥng, Bộ Tổng Tham Mưu (cùng các đơn vị trực thuộc) trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Lịch sử h́nh thành :
Năm 1950, Quốc Trưởng Bảo Đại thành lập Quân Đội Quốc Gia trong Quân Đội Liên Hiệp Pháp. Nhưng đến 2 năm sau (1952), Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc Gia mới h́nh thành.

Sơ đồ tổ chức Bộ Tổng Tham Mưu năm 1952-H́nh trích từ tài liệu [3]
Cổng Bộ Tổng Tham Mưu - H́nh trích từ tài liệu [3]
Cổng Bộ Tổng Tham Mưu - H́nh trích từ tài liệu [4]

Phù hiệu Bộ Tổng Tham Mưu- H́nh trích từ tài liệu [3]
Tại Bộ Tổng Tham mưu, Pḥng 1 phụ trách việc Quản Trị Nhân Viên nhưng tại Bộ Quốc Pḥng, việc Quản trị Nhân viên do Nha Nhân Viên phụ trách.
Năm 1960 ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng Ḥa, do Huấn thị số 0402 /TTM/P3 ngày 16 tháng 3, một phần quân số của Pḥng 1 được tách ra để thành lập Pḥng Tổng Quản trị và vị trí được đặt theo hệ thống hàng ngang với các Pḥng khác và dưới quyền điều hành trực tiếp của Tham Mưu Phó Nhân viên trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Theo tài liệu [3] : Pḥng Tổng Quản Trị tách ra từ Pḥng 1, phụ trách về Quản Trị Nhân Viên, với Trưởng Pḥng là Đại Tá Trần Văn Thân, tốt nghiệp Khóa 2 Thủ Đức (1953).
(Chú thích : Theo tài liệu [2] : Trần Văn Thân là Trưởng Pḥng sau cùng của Pḥng Tổng Quản Trị (năm 1974-1975) trong khi đó Đại Úy Nguyễn Phú Sanh là Trưởng Pḥng đầu tiên năm 1960-1961 ).
Sau ngày đảo chính Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm 1 tháng 11 năm 1963, Nha Nhân Viên của Bộ Quốc Pḥng có quyết định giải tán, quân số của Nha Nhân Viên Bộ Quốc Pḥng được sáp nhập vào Pḥng Tổng Quản Trị của Bộ Tổng Tham Mưu.
1-Nhiệm Vụ của Pḥng Tổng Quản Trị
Pḥng Tổng Quản Trị có nhiệm vụ chính như sau:
-Cố vấn cho Tham Mưu tTưởng Bộ
Tổng Tham Mưu về các vấn đề có liên quan
đến thủ tục nhân viên và hành chính tổng quát
trong Quân Lực ;
-Nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các thủ tục về
lĩnh vực trên, tổng quát trong Quân Lực;
-Điều hành các thủ tục về Quản Trị
Nhân viên ;
-Hướng dẫn việc định nghiệp và sử
dụng nhân viên các cấp thuộc ngành Tổng Quản Trị;
-Giám sát việc điều hành và phối hợp công tác của
các Trung tâm trực thuộc:
1/ Trung tâm Điện Toán Nhân Viên. (Xem thêm chi tiết trong bài
Trường Tiếp Vận của cùng tác giả) ;
2/ Trung tâm Trắc Nghiệm Tâm Lư;
2/ Trung tâm Ấn Loát Ấn phẩm;
4/ Trung tâm Hồ Sơ Cá Nhân;
5/ Trung tâm Bưu Chính Quân Đội (Quân Bưu);
6/ Trung tâm Văn Khố ;
7/ Trung tâm Hoăn và Miễn Dịch (hoăn và miễn thi hành quân dịch);
8/ Trung tâm Quản Trị Trung Ương (Đơn vị
3) và các Đơn Vị Quản Trị Địa
Phương 1, 2 và 4;
9/ Giám sát Kỹ Thuật Trường Tổng Quản trị
trong việc huấn luyện chuyên môn cho nhân viên các cấp
trong ngành Tổng Quản trị;
10/ Thi hành các trách vụ khác mà Tham mưu trưởng Bộ
Tổng Tham Mưu giao phó.
Từ ngày h́nh thành, Pḥng Tổng Quản Trị luôn được cải tiến để điều hành được nhanh chóng và kịp thời theo mức nhu cầu gia tăng quân số của Quân đội.
2-Tổ chức của Pḥng Tổng Quản Trị
Gồm có:
-Trưởng Pḥng ;
-Phó Trưởng Pḥng;
-Ban Hành Chính 8 Khối:
1/ Khối Nghiên Huấn (có 7 ban);
2/ Khối Bổ Nhiệm (có 4 ban);
3/ Khối Nhân Sự Vụ (có 4 ban);
4/ Khối Hành Chính Sự Vụ (có 3 ban);
5/ Khối Huy Chương (có 2 ban);
6/ Khối Thăng Thưởng (có 2 ban);
7/ Khối Dân Chính (có 3 ban);
8/ Khối Điều Hành Quân Nhân Loại 2 (có 2 ban).
Theo tài liệu [5] : Ngày mồng 2 Tết Mậu Thân 1968, bọn việt cộng đánh vào cổng số 4 Bộ Tổng Tham Mưu.Địch lọt vào cổng nhưng ch́ bám vào khu Trường Sinh Ngử Quân Đội không tiến sâu vào trong. Sáng ngày Mồng 3 , tổ chức phản công ,các phi cơ trực thăng thay nahu xạ kích xuống khu Trường Sinh Ngử Quân Đội và Trường Tổng Quản Trị Cuộc phản công này hoàn tất vào 10 giờ sáng.
Pḥng Tổng Quản Trị đă hoàn thành tất cả nhiệm vụ của ḿnh cho đến cuối tháng 4 năm 1975.
Trưởng Pḥng Tổng Quản Trị qua các thời kỳ
1 Nguyễn Phú Sanh-Vơ Bị Đà Lạt K3-Đại Úy-1960-1961-Chức vụ sau cùng: Biệt phái qua Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Đại Tá, Phụ tá Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia;
2 Trần Văn Vân-Vơ Bị Địa Phương Nam Việt Vũng Tàu-Thiếu Tá-1961-1963-Chức vụ sau cùng: Đại Tá Tuỳ Viên Quân sự cạnh Ṭa Đại sứ VNCH tại Đại Hàn Dân quốc (Nam Hàn);
3 Nguyễn Văn Tuấn-Vơ Khoa Thủ Đức K1- Thiếu Tá-1963-1965-Chức vụ sau cùng: Đại Tá phục vụ Bộ Quốc Pḥng;
4 Trần Văn Trung-Vơ Bị Huế K1-Đại Tá-1/1965-2/1965;
5 Bùi Đ́nh Đạm-Vơ Bị Huế K1- Đại Tá-2/1965-10/1965;
6 Đồng Văn Khuyên-Vơ Khoa Thủ Đức K1-Trung Tá-1965-1967;
7 Nguyễn Đức Đệ-Vơ Khoa Thủ Đức K3- Trung Tá-1967-1971-Chức vụ sau cùng: Đại Tá Phụ tá Thanh Tra thuộc Bộ Quốc Pḥng;
8 Trần Ngọc Thống-Vơ Khoa Nam Định-Đại Tá-1971-1974-Chức vụ sau cùng: Giám Đốc Nha Trừ Bị kiêm Phụ tá Thanh tra trong Tổng Na Nhân Lực thuộc Bộ Quốc Pḥng (đồng tác giả biên soạn sách "Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng ḥa", xuất bản năm 2011 tại Hoa Kỳ) ;
9 Trần Văn Thân-Vơ Khoa Thủ Đức- Đại Tá-1974-1975-Trưởng pḥng sau cùng .

Thiệp chúc Tết của Pḥng Tổng Quản Trị, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH (năm không xác định) – H́nh trích từ tài liệu [6]
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_qu%C3%A2n_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a Danh Sách Quân Trường Việt Nam Cộng Ḥa .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B2ng_T%E1%BB%95ng_qu%E1%BA%A3n_tr%E1%BB%8B_B%E1%BB%99_T%E1%BB%95ng_tham_m%C6%B0u Pḥng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu.
3. https://petruskyaus.net/bo-tong-tham-muu-qlvnch-lam-vinh-the/ Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa - Lâm Vĩnh-Thế .
4. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975)
5. Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa của việt cộng Mậu Thân 1968-Khối Quân Sử-Pḥng 5-Bộ Tổng Tham Mưu-Tháng 8, năm 1968.
6. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ Ḍng Sông Cũ – 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa- Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024-NVQ sưu tầm.
29- Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ - Thị trấn Dục Mỹ - Xă Ninh Sim, Quận Ninh Ḥa, Tỉnh Khánh Ḥa
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ được thành lập vào năm 1961 từ việc xáp nhập của 3 Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội Đồng Đế,Ḥa Cầm và Sông Mao được mở ra trước đó vào năm 1960 .
Theo tài liệu [1] & [2] & [3] :
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ (tiếng Anh : Duc My Ranger Training Center, DMRTC) tọa lạc tại địa phận thị trấn Dục Mỹ, xă Ninh Sim, quận Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa , là một cơ sở đào tạo nhân sự cho Binh Chủng Biệt Động Quân , trực thuộc và dưới sự điều hành của Tổng Cục Quân Huấn thuộc Bộ Tổng Tham Mưu – Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Địa lư và thổ nhưỡng của vùng Dục Mỹ theo tài liệu [4] : ‘’ Dục Mỹ trước kia nằm tại thôn Tân Mỹ, xă Ninh Xuân, nay là một vùng đất cách thị trấn Ninh Ḥa khoảng mười lăm cây số theo hướng Tây có đường Quốc Lộ 21 đi ngang qua, được bao bọc bởi những dăy núi trập trùng uốn khúc cho nên từ trên đèo Phượng Hoàng (đèo Hai Mươi Bốn) nh́n xuống Dục Mỹ quả là một thung lũng h́nh chảo, Phía Tây giáp quận Khánh Dương tỉnh Đắc Lắc, phiá Nam giáp với Đồng Trăng quận Diên Khánh, phiá Bắc giáp Đá Bàn có đập Đá Bàn nổi tiếng ( Đập Đá Bàn được xây dựng trong những năm 80 thời ngụy quyền cộng sản trên sông cùng tên thuộc quận Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà với lưu vực 126 cây số vuông , đập có chiều cao 26,2 mét và chiều dài 347,5 mét. Hồ có dung tích 79,2 triệu thước khối- m3) và phía Đông th́ giáp xă Ninh Xuân quận Ninh Ḥa).
Dục Mỹ được bao bọc bởi hai con suối lớn, một con suối bắt nguồn từ suối Nước Nóng chảy qua cầu Buôn Đun, sau lưng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, đổ về suối Đá. Một con suối khác phát nguồn từ núi Vọng Phu chảy theo hướng Trường Bắn cầu Đỏ, sau lưng nhà Thờ, cầu Ông Ngọ, cầu Dục Mỹ rồi hợp cùng với suối cầu Treo chảy về sông Dinh thuộc quận Ninh Ḥa.
Dục Mỹ thuộc xă Ninh Sim gồm 6 thôn và là ba buôn Thượng của người Rhade và Giarai nổi tiếng với nhà sàn, nhà rông là một kiểu nhà được dựng trên các cột dựng trên mặt đất hay mặt nước xây dựng phần lớn bằng các vật liệu của chính núi rừng như cỏ tranh, tre, gỗ, lồ ô…v.v…Thú nuôi nổi tiếng là giống heo Mọi màu đen xám, lưng găy, bụng xệ chấm đất đó cũng chính lại là đặc sản của Dục Mỹ và vùng Khánh Dương lân cận.
Mặc dù chỉ cách Ninh Ḥa vỏn vẹn 15 cây số nhưng thời tiết Dục Mỹ khá khắc nghiệt, do chịu ảnh hưởng của gió Lào cho nên vào mùa khô, ban ngày nhiệt độ ở Dục Mỹ rất nóng có thể lên đến 39 - 41 độ C là chuyện b́nh thường nên có câu “Dục Mỹ nắng cháy da người” quả thật không sai, với cái nắng hanh cháy gay gắt ḥa với mùi của mồ hôi đổ nên khi đứng gần con người như có mùi “khét nắng”.
Trái lại, do ảnh hưởng sương núi rừng nên ban đêm nơi đây rất lạnh, sương cũng rất dày với khí hậu khắc nghiệt. V́ vậy làm rẫy là nghề chính của người dân nơi đây so với những vùng khác trong quận Ninh Ḥa người ta c̣n trồng lúa th́ Dục Mỹ trồng cây mía,cây thuốc lá, cây cây công nghiệp…
Bên cạnh những khó khăn, khắc nghiệt của khí hậu, “ Ông Trời” cũng đă ban tặng lại cho Dục Mỹ nguồn dồi dào phong phú về lâm sản và đặc sản quí hiếm của rừng như Kỳ Nam, Trầm , Quế chi, Đá Thạch Anh.v.v… những danh mộc như Căm xe, Bằng lăng, Cẩm lai. Trắc.v.v…có rất nhiều trái cây rừng như Xay, Da Đá, Sim để làm thuốc; trái Sa Nhân, trái Đười Ươi để xuất cảng. Cứ mỗi dịp xuân về Tết đến, Dục Mỹ có nhiều Hoa Mai, Hoa Lan rừng vừa rất đẹp lại vừa rất quí hiếm để chưng chơi trong những ngày Tết’’ .
Ngoài ra,theo tài liệu [5] : Dục Mỹ ngày xưa tên Buôn Sim, chỉ cách thị trấn Ninh Ḥa khoảng 14 cây số theo hướng Quốc Lộ 21. Người dân quê tôi (tác giả tài liệu [5] ) không gần gũi với vùng đất này bởi khí hậu nơi ấy vô cùng khắc nghiệt. Nằm trong ḷng chảo của nhiều rặng núi, Buôn Sim là một vùng khô cằn, sỏi đá, đêm quá lạnh, ngày quá nóng.

Cánh đồng Dục Mỹ thời Việt Nam Cộng Ḥa – H́nh trích từ tài liệu [5]
Sau đây là lược sử thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ trích phần lớn từ tài liệu [6] :
1. Nguyên Nhân Thành Lập Binh Chủng Biệt Động Quân:
Trước khi bản “Hiệp Định Đ́nh Chỉ Chiến Sự” được kư kết đêm 20/7/1954 ở Genève, Thụy Sĩ, cộng sản Bắc Việt đă có kế hoạch xâm chiếm phần c̣n lại dưới vỹ tuyến 17 của nước Việt Nam .
Từ đầu năm 1955, thổ phỉ cộng sản đă bắt đầu phát động kế hoạch khủng bố khắp lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, đă giết hại 106 người trong năm này. Con số nạn nhân tiếp tục tăng lên vào những năm kế tiếp : 1956 có 207 người; 1957 là 682 và trong năm 1958 có 1,306 người bị cộng sản giết chết.
Trong tổng số người bị cộng phỉ ám hại có 70% là nhân viên hành chánh cấp xă, ấp, bảo an, dân vệ, cảnh sát, v.v. phần c̣n lại là thường dân vô tội. Riêng vùng châu thổ sông Cửu Long là khu vực người bị sát hại chiếm tới 85% trong tổng số nạn nhân.
Các hoạt động khủng bố của cộng phỉ thường tổ chức vào ban đêm, xảy ra ở những khu dân cư hẻo lánh và thủ đoạn mà c cộng phỉ hành động là rải truyền đơn hăm dọa, bắt cóc, thủ tiêu, ám sát tại chỗ, gài thuốc nổ, giả dạng ăn cướp, v.v.
Cũng từ năm 1954 tới năm 1958, trong con số được ước tính gần 1,000 địa điểm cộng sản chôn giấu vũ khí, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă phát giác được 375 nơi mà riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đă chiếm hết 300 địa điểm.
Đầu năm 1958, trước vấn nạn cộng phỉ gia tăng khủng bố, phá hoại và giết hại dân lành khắp nơi, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kêu gọi “thế giới tự do” yểm trợ phương tiện để đối phó với hiểm họa cộng sản đang lan tràn. Phía Mỹ mau chóng lên tiếng đáp ứng yêu cầu này, nhưng họ cho rằng vấn đề khủng bố, phá hoại của cộng phỉ là do sự chỉ đạo của cộng sản Bắc Việt, nên cần phải có một kế hoạch lâu dài như đưa người xâm nhập, bí mật hoạt động để tạo bất an xă hội ngay nơi xuất phát những âm mưu đó.
Ngày 24 tháng 8 năm 1958, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa cho thành lập Liên Đội Quan Sát Số 1 (tiền thân Lực Lượng Đặc Biệt sau này) với sự giúp đỡ của chính phủ Mỹ.
Liên Đội Quan Sát Số 1 được thành lập như sau theo tài liệu [7] : Tháng 2 năm 1956, sau khi tiếp nhận căn cứ GCMA (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés, Lực lượng Biệt kích không vận hỗn hợp) của Pháp tại Nha Trang, với sự trợ giúp của Phái Bộ Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group- MAAG) Mỹ tại Việt Nam, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă cho thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội, nhằm xây dựng cơ sở huấn luyện Biệt Kích cho Việt Nam Cộng Ḥa.
Về tổ chức, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Đội được đặt dưới quyền quản lư của Nha Tổng Nghiên Huấn, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, về sau chuyển thuộc Sở Liên Lạc, trực thuộc Phủ Tổng Thống, có trách nhiệm huấn luyện các toán Biệt Kích Phá hoại, Thám sát, Trinh sát và Viễn thám làm nhiệm vụ xâm nhập sâu vào lănh thổ miền Bắc.
Hoạt động của Sở Liên Lạc do Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu trực tiếp chỉ đạo, các sĩ quan Việt Nam chỉ huy, riêng các hoạt động Biệt Kích đều do các cố vấn Mỹ trực tiếp quản lư, điều hành và huấn luyện.
Toàn bộ thành viên người Việt của các toán Biệt Kích đều là người gốc miền Bắc, gồm cả quân sự lẫn dân sự, trong đó có một số lượng lớn là người dân tộc thiểu số. Các toán biệt kích này được tổ chức thành một đơn vị ngụy trang dưới tên gọi Liên Đội Quan Sát Số 1, về sau được nâng lên cấp Liên đoàn, tương đương quy mô cấp Trung đoàn.
Một số sĩ quan người Việt thuộc Liên Đoàn Quan Sát Số 1 được chuyển sang làm thành phần ṇng cốt của Biệt Động Quân. Chiến thuật tác chiến ban đầu của các Đại Đội Biệt Động Quân chủ yếu là trang bị vũ khí gọn nhẹ với quần áo bà ba đen, cơ động truy kích và tiêu diệt các đơn vị du kích cộng sản hoạt động trên địa bàn.
Theo tài liệu [1] : Các chiến sĩ Biệt Động Đội chuyên dùng chiến thuật "Gậy ông đập lưng ông" tức là lấy "Du kích phản lại du kích" để tiêu diệt kẻ thù.
Nhưng phần lớn các kế hoạch và hoạt động của Liên Đội Quan Sát Số 1 trong thời gian này là: Bí mật tuyển mộ người t́nh nguyện, huấn luyện đặc biệt để xâm nhập miền Bắc, v.v.
Toàn bộ những kế hoạch, phương tiện, địa điểm, thời gian xâm nhập, v.v. đều do phía Hoa Kỳ chủ động soạn thảo.
Tuy nhiên trong thực tế, những hoạt động của Liên Đội Quan Sát Số 1 đă không giải quyết được t́nh trạng khủng bố của phỉ cộng ở miền Nam–Việt Nam, v́ đây mới thực sự là một vấn đề cấp thiết cần phải đối phó ngay trước mắt.
V́ nguyên nhân này, từ cuối năm 1958, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă có kế sách như sau : Chỉ thị Bộ Tổng Tham Mưu cử nhiều toán quan sát luân phiên tới thăm viếng các nơi huấn luyện của Liên Đội Quan Sát Số 1 tại Bà Rịa (Phước Tuy) ; Đồng Đế (Khánh Ḥa); Ḥa Cầm và Cù Lao Chàm (Quảng Nam).
Qua những phúc tŕnh của các toán quan sát này, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lệnh cho Bộ Tổng Tham Mưu nên nghiên cứu một chiến thuật chống du kích và khủng bố ở nông thôn. Đặc biệt, các quân nhân được chọn cho chiến thuật này không nên mặc quân phục, được trang bị nhẹ nhưng không để lộ vũ khí, thu lượm tin tức ban ngày, đột kích mục tiêu vào ban đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ nhưng lúc cần có thể tập trung thành một đơn vị tác chiến đông quân số.
Ư tưởng đó của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă gặp sự phản đối từ Bộ Tư Lệnh MAAG, kể cả Bộ Quốc Pḥng của Mỹ cũng không đồng ư. Phía Mỹ cho rằng Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa nếu có thêm lực lượng này, quân số sẽ tăng lên hơn 150,000, là con số giới hạn mà hai bên đă thỏa thuận lúc Mỹ cam kết sẽ viện trợ và phát triển Quân Đội Quốc Gia. Hơn nữa Mỹ cũng không có ngân khoản nào dành cho lực lượng như vậy, nó khác hẳn với tổ chức và chiến thuật của quân đội Mỹ.
Dù gặp khó
khăn từ phía đồng minh, Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm vẫn nhất quyết thực hiện. Miền
Nam cần phải có một lực lượng như vậy
mới thích hợp cho việc tiêu trừ du kích và cơ sở
nằm vùng của cộng phỉ. Nông thôn rộng mênh mông,
vô số các thôn làng, thị trấn thưa thớt của
miền Nam là mục tiêu cho các hoạt động phá hoại,
khủng bố của cộng sản, mà hầu hết những
thảm họa đều xảy ra vào ban đêm và có tổ
chức đồng nhất.
Đây là một hoàn cảnh khác biệt trên chiến trường
(vô h́nh) mà các đơn vị chính quy như Bộ Binh, Nhảy
Dù , Thủy Quân Lục Chiến, v.v. khó đảm trách v́
tính cách quy ước và công khai của những đơn vị
này.
Từ cuối năm 1958, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa bắt đầu xúc tiến việc nghiên cứu, tổ chức một lực lượng thích ứng với kiểu hoạt động lén lút và bất ngờ của phỉ cộng và dĩ nhiên cũng rát cần sự hỗ trợ từ các Đống Minh .
Vào ngày 10 tháng 02 năm 1959 : Bộ Tổng Tham Mưu cho thành lập “Ban Nghiên Cứu Hỗn Hợp về Phản Du Kích và Chống Phiến Loạn” (Joint Commission’s for Studies on Counter Guerilla and Anti–Revolt) với 4 đại diện: Việt Nam, Mỹ, Anh, Úc. Các đại diện của Đồng Minh tham dự vào ban này không sốt sắng mấy, họ chỉ đến quan sát việc huấn luyện, ghi nhận kết quả và gởi báo cáo mà thôi .
2. Thành Lập Biệt Động Đội
Ngày 10 tháng 8 năm 1959 : Bộ Tổng Tham Mưu cho giải tán Trung Đoàn 135 Địa Phương Biệt Lập ở Long Xuyên.
(Chú thích : Tài liệu không có viết xuất xứ Trung Đoàn 135 Địa Phương Biệt Lập này !).
Ngay sau đó, các quân nhân của đơn vị này được tuyển chọn đặc biệt về học vấn, lư lịch, vóc dáng, kinh nghiệm chiến đấu, v.v. để rồi thành lập 20 Trung Đội - Hoạt Động Đặc Biệt, gọi tắt là Biệt Động Đội (Special Activity Platoon - SAP) .
Ngay sau khi thành lập, các Trung Đội này được gởi đến Trường Hạ Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa (QĐVNCH) ở Đồng Đế-Nha Trang,để được huấn luyện trong 6 tuần về chiến thuật Phản Du Kích và Chống Phiến Loạn do Bộ Tổng Tham Mưu soạn thảo.
Theo kế hoạch, sẽ có 15 Trung Đội được trực tiếp theo dơi bởi Ban Nghiên Cứu Hỗn Hợp về Phản Du Kích và Chống Phiến Loạn, 5 trung đội c̣n lại sẽ trực thuộc các Sư Đoàn Bộ Binh.
Trường Huấn Luyện Biệt Động Đội ở Đồng Đế trước kia là một doanh trại của Pháp, nơi đây có Trường Huấn Luyện Biệt Kích Quân, và một đơn vị có tên “Lực Lượng Biệt Kích Không Vận Hỗn Hợp” (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés - Joint Aeroports Commando Forces). Sau khi rời Việt Nam, phía Pháp bàn giao doanh trại này vào ngày 24 tháng 02 năm 1956, sau đó được Bộ Tổng Tham Mưu cho đổi tên thành Trường Huấn Luyện Thể Dục Quân Sự Đinh Tiên Hoàng. Tới tháng 6 năm 1957, nơi đây lại đổi tên là Trường Huấn Luyện Biệt Động Đội Đinh Tiên Hoàng, rồi chính thức đổi thành Trường Hạ Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa tháng 11 năm 1957.
Quân nhân của các Trung Đội Hoạt Động Đặc Biệt được phối trí ở cấp quận và xă, không mặc quân phục, chỉ một bộ đồ bà ba đen hoặc màu nâu, vũ khí giấu trong người. Vào ban ngày, một nửa trung Đội tỏa ra, trà trộn trong dân chúng ở những nơi như bến đ̣, bến xe, chợ búa, xóm di cư, v.v. hoặc giả dạng làm người buôn bán lưu động, thợ rừng, v.v. để xâm nhập đến các nơi hẻo lánh. Vào buổi chiều, những tin tức có được trong ngày, sẽ tập trung lại nhằm phân tích, kết luận để đưa ra các kế hoạch hoạt động vào ban đêm. Số quân nhân nghỉ ngơi vào ban ngày, lúc này sẽ âm thầm đến đột kích các địa điểm được xác nhận có cộng phỉ ẩn nấp, hoặc sẽ phục kích ở những nơi mà tin tức cho biết cán bộ cộng sản thường lén lút di chuyển.
Ngày 14 tháng 11 năm 1959, sau khi đến thăm các quân nhân Biệt Đông Đội đang thụ huấn ở Đồng Đế, cũng như xem các báo cáo đầy khích lệ về sự hoạt động từ Biệt Động Đội của Đại tá Nguyễn Văn Y, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có quyết định : Cho tuyển lựa quân nhân và thành lập thêm 70 Trung Đội Hoạt Động Đặc Biệt tại năm (5) Quân Khu vào lúc đó. Xem bản đồ dưới đây .

(Phụ chú : Sau này kể từ năm 1961 , toàn cơi miền Nam Việt Nam được chia ra làm 4 Vùng Chiến Thuật,đến năm 1970 đổi tên là Quân Khu ).

Bốn Vùng Chiên Thuật kể từ năm 1961- H́nh trích từ tài liệu [8]
Ngày 20 tháng 12 năm 1959, tất cả các Trung Đội Biệt Động Đội được tái tổ chức thành cấp Đại Đội.
Đến tháng 01 năm 1960, có 38 Đại Đội đă được thành lập trên toàn quốc, riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long (Quân Khu 5) có tới 20 Đại Đội. Về tổ chức th́ mỗi Đại Đội Biệt Động Đội có một Ban Chỉ Huy 11 người, trong đó có 4 sĩ quan, ba Trung Đội tác chiến với quân số 40 người cho mỗi trung đội.
Theo tài liệu [7] : Để tăng cường khả năng tác chiến của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa trước chiến thuật du kích của cộng sản kể từ sau phong trào Đồng Khởi (Sic), ngày 16 tháng 02 năm 1960, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ thị thành lập các Đại Đội Biệt Động Quân, tuyển chọn binh sĩ của các Sư Đoàn Bộ Binh và Quân Khu, Binh chủng Dù và Thủy Quân Lục chiến, huấn luyện kỹ năng hành quân độc lập, tác chiến chống du kích.
Và theo tài liệu [9] : Ngày 16 tháng 02 năm 1960, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ thị cho các Tư Lệnh Sư đoàn và Quân Khu thành lập các đại đội Biệt Động Quân, tuyển chọn từ các Sư Đoàn Bộ Binh,Lực Lượng Pḥng Vệ Dân Sự (Bảo An Đoàn), và các quân nhân giải ngũ.

Phù hiệu Bảo An Đoàn-H́nh t́m thấy trên mạng
Tiêu chuẩn chọn lựa, theo ư Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, phải là các đơn vị bộ binh giỏi nhất, những cá nhân thật ưu tú t́nh nguyện.
Mười lăm (15) đại đội được thành h́nh vào đầu tháng 3 năm 1960.
Ba mươi hai (32) đại đội sau đó trực thuộc các Quân Khu. Mười tám (18) đại đội thuộc các Sư Đoàn.
Tất cả được trang bị quần áo bà ba đen, vũ khí gọn nhẹ, hành quân độc lập theo lệnh của Tiểu Khu và Sư Đoàn, đă gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp trong các cuộc tiểu trừ du kích cộng sản. Họ được xếp vào các đơn vị chiến đấu dũng cảm, bách chiến bách thắng, gây cho du kích cộng sản hoảng viá cao chạy xa bay mỗi khi chạm súng với Biệt Động Quân.
Hơn nửa theo tài liệu [6] : Ngày 16 tháng 02 năm 1960, Bộ Tổng Tham Mưu gởi chỉ thị cho các Quân Khu thành lập thêm các đơn vị Biệt Động Đội. Ngoài những Đại Đội được tổ chức cho những Quân Khu, th́ mỗi Sư Đoàn Bộ Binh cũng thành lập một đại đội như vậy nhưng danh xưng là Đại Đội Quyết Tử (sau này mới đổi thành Đại Đội Trinh Sát, Thám Kích, v.v.)
Về phía Đoàn Cố Vấn Yểm Trợ Quân Sự của Mỹ (Military Assistance Advisory Group – MAAG), lúc đầu họ đă không chịu giúp Việt Nam Cộng Ḥa có thêm lực lượng này, nhưng sau hơn một năm chứng kiến sự thành công của những đơn vị Biệt Động Đội và thấy được quyết tâm của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, phía Mỹ bắt đầu chấp nhận sự giúp đỡ bằng cách cho tăng cường nhiều toán huấn luyện của Lực Lượng Đặc Biệt đến Việt Nam, và cũng dành ra một ngân khoản để tiếp tục xúc tiến kế hoạch nay .
Theo tài liệu [7] : Khác với các toán Biệt Kích của Liên Đoàn Quan Sát Số 1 do các cố vấn CIA trực tiếp quản lư, điều hành và huấn luyện, các toán Biệt Động Quân do các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan người Việt huấn luyện với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự của Phái bộ Cố vấn Quân sự Mỹ (Military Assistance Advisory Group - MAAG).
Theo tài liệu [9] : Trung tuần tháng 4 năm 1960, trong cuộc thăm viếng trường Biệt Động Đội Đồng Đế (sau đổi tên là Trung Tâm Huấn Luyện (TTHL) Biệt Động Quân Nha Trang), Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rất hài ḷng cách thức huấn luyện và thực tập do một số sĩ quan Huấn luyện viên tốt nghiệp khoá Ranger tại Fort Benning, Georgia, Hoa Kỳ, về áp dụng.
Trở về Sàig̣n, ông liền chỉ thị cho Bộ Tổng Tham Mưu/ QLVNCH thành lập 2 TTHL/ BĐQ, một tại Đà Nẵng để huấn luyện cho Sĩ quan và Hạ sĩ quan thuộc Quân Đoàn I, một tại Sông Mao huấn luyện cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan thuộc Quân Đoàn III, và Quân Đoàn IV.
Cả hai TTHL/ BĐQ Đà Nẵng và Sông Mao được đồng thành lập vào thượng tuần tháng 5 năm 1960 .
Bộ TTM/ QLVNCH yêu cầu phái bộ Viện Trợ Mỹ (Military assistance Advisory group) giúp đỡ tổ chức các toán huấn luyện viên hỗn hợp cho 2 TTHL này.
Vào trung tuần tháng 5 năm 1960, Liên đoàn 77 Special Forces đến Việt Nam chia làm hai toán, một toán tới Đà Nẵng và một toán tới Sông Mao.
Cũng trong thời gian này, các sĩ quan Việt Nam tốt nghiệp khoá bộ binh cao cấp (IOAC) và các sĩ quan tốt nghiệp khoá Đại đội trưởng (ACO) tại trường Fort Benning, Georgia, Hoa Kỳ, hồi hương về tŕnh diện Ban Quân Huấn (sau này thành Tổng Cục Quân Huấn) thuộc pḥng Bộ 3 TTM và được phân phối như sau :
Về TTHL/ BĐQ Sông Mao : Các Đại uư Đỗ văn Sáu, Hồ văn Phước, Trần công Liễu, Đào vĩnh Thi, Trần hữu Toán, Nguyễn Ni Văn; các Trung uư Ngô Minh Hồng, Quan Minh Tống, Nguyễn Văn Sảo, và Phan Văn Cẩm.
Về TTHL/ BĐQ Đà Nẵng: Các Đại uư: Nguyễn Văn Đại (trưởng toán), Trần Văn Hai, Vơ Công Trí, Nguyễn Hoành Bảo, Cao Quốc Điền, Trần đ́nh Nại, Cao Văn Chơn; các Trung uư: Nguyễn Kim Biên, Phạm Quang Vân, Nguyễn Văn Vy và Hoàng Tôn Oai.
Ban Chỉ Huy TTHL/BĐQ Đà Nẵng: Thiếu tá Chương Phát Dưỡng, Chỉ Huy Trưởng, một Thiếu uư phụ trách Tiếp Liệu, Tiếp Vận, một Thiếu uư phụ trách ẩm thực cho khóa sinh, canh gác, tạp dịch và một Trung đội Bộ binh. Tất cả thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh biệt phái.
Theo tài liệu [1] : Các sĩ Việt Nam kể trên đă được gởi đi Mỹ học khóa Ranger tại Fort Benning, tiểu bang Georgia–Hoa Kỳ trong các năm 1958, 1959 và 1960) .
Theo tài liệu [7] : Cuối tháng 4 năm 1960 (ngày 06 tháng 5 năm 1960 theo tài liệu [6] ), để phụ trợ với Trung Tâm tại Đồng Đế-Nha Trang , hai (2) Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân mới được thành lập :
Một Ḥa Cầm tại Đà Nẵng để huấn luyện cho sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc Quân đoàn I; Một tại Sông Mao tại B́nh Thuận huấn luyện cho sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Quân đoàn III, và Quân đoàn IV ;
Ngoài ra, c̣n có 2 trung tâm huấn luyện khác là Trung Ḥa và Thất Sơn, chuyên huấn luyện tác chiến cấp Đại đội.
Tài liệu [9] viết : Xin đề cập tới TTHL/ BĐQ Đà Nẵng làm điển h́nh : Ban Chỉ Huy TTHL/BĐQ Đà Nẵng gồm có : Thiếu tá Chương Phát Dưỡng, Chỉ Huy Trưởng, một Thiếu uư phụ trách Tiếp Liệu, Tiếp Vận, một Thiếu uư phụ trách ẩm thực cho khóa sinh, canh gác, tạp dịch và một Trung đội Bộ binh. Tất cả thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh biệt phái.
Ngày 25 tháng 5 năm 1960, Thiếu tá Chương Phát Dưỡng giới thiệu hai toán huấn luyện viên (HLV) Mỹ Việt, sau đó huấn luyện viên Việt nam cùng ngồi chung xe jeep của HLV Mỹ về cư xá sĩ quan Đà Nẵng nơi cư ngụ cuả SQ/ HLV Việt Nam. HLV Mỹ về cư xá phái bộ cố vấn Mỹ ở cuối đường Độc Lập cạnh sông Hàn.
Sau đó mỗi buổi sáng, HLV Mỹ tới đưa HLV Việt nam vào TTHL (toạ lạc tại doanh trại của Bảo An Đoàn cũ, phía tây nam phi trường Đà Nẵng, kế cận Quốc lộ 1 và xă Phưóc tường, Hoà Cầm).
Công việc cấp bách của HLV Việt-Mỹ là thám sát điạ điểm huấn luyện, tổ chức các băi tập tại đèo Đại La, núi Ba Ra vùng Hoà Cầm, ven sông vùng Hà Thanh, Nam Ô…, cũng như dịch tài liệu, soạn phiếu huấn luyện, chuẩn bị trợ huấn cụ. Trong thời hạn 15 ngày, tất cả các phương tiện, tài liệu, vật liệu, văn pḥng phẩm, và phương tiện di chuyển đều do Team A 7th Special Task Forces cung cấp. Riêng xe cộ chuyển vận khoá sinh do Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn 2 Bộ Binh cung cấp bất cứ lúc nào.
Ngày 10 tháng 6 năm 1960, các khóa sinh đến tŕnh diện chỉ phải đóng 6 tuần tiền ăn theo tiêu chuẩn b́nh thường. Tuy vậy suốt thời gian thụ huấn, khoá sinh đuợc hưởng chế độ ăn uống cao và khẩu phần phụ trội sáng, trưa, chiều, mà không phải trả thêm một đồng nào. Khoá sinh được trang bị đầy đủ quân trang, quân dụng, vũ khí như một quân nhân tác chiến.

Khóa sinh - H́nh tích từ tài liệu [9]
Thành phần khóa sinh, một phần t́nh nguyện theo học, phần c̣n lại được tuyển lựa gồm 50 Hạ Sĩ Quan, 50 Sĩ Quan cấp Úy và cấp Tá, trong số cấp tá có người đương kim là Trung Đoàn Phó, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn, Tỉnh Trưởng.
Theo nội quy, các khóa sinh tự gỡ bỏ cấp hiệu và mang số khoá sinh cho tới ngày măn khóa. Mỗi HLV Mỹ và Việt ít nhất phải đảm nhiệm huấn luyện viên chính (Prime Instructor PI) một môn, ngoài ra sẽ làm huấn luyện viên phụ (Assistanct Instructor AI) cho các PI khác, hoặc kiêm thông dịch nếu PI là Mỹ. Riêng 2 trưởng toán được miễn là AI v́ bận nhiều việc như lập lịch tŕnh huấn luyện và đón tiếp, hướng dẫn các VIP Mỹ Việt đến thăm. Tóm lại, sự phối hợp huấn luyện giữa Mỹ và Việt rất nhịp nhàng, chặt chẽ, đồng đều.
Chương
tŕnh huấn luyện sáu tuần lễ, thời lượng
trung b́nh mỗi tuần là 84 giờ, bất kể ngày
đêm. Chỉ có ngày chủ nhật huấn luyện viên,
khoá sinh được nghỉ xả hơi. Tuy nhiên, tất
cả HLV phải họp mặt vào lúc 10.00 sáng chủ nhật
để kiểm điểm công tác trong tuần.
Các môn học gồm: phục kích, phản phục kích,
đột kích, thám sát, kỹ thuật sưu tầm tin tức,
chiến tranh chống du kích, bơi lội, vượt
sông, ḿn, chất nổ, cạm bẫy, cấp cứu
sơ khởi, mưu sinh thoát hiểm, cận chiến, tác
xạ làm quen các loại vũ khí, tác xạ di động,
tác xạ phản ứng nhanh ngày, đêm, di hành với ba
lô, súng đạn (nặng 15 kí lô) leo núi, băng rừng,
trên đường về trung tâm đi gia tốc đoạn
đường dài 10 cây sô và bài tập dă ngoại 48 giờ.
Ngoài ra tập thể dục từ 4 đến 5 giờ
sáng mỗi ngày, và tự giác đu xà ngang 15 lần trước
khi vào pḥng ăn.
H́nh phạt thông thường là hít đất, nhẩy xổm, chạy ṿng ṿng. Theo thông lệ, huấn luyện viên biểu diễn trước, khóa sinh bị phạt thi hành sau. Khóa sinh nào khai bệnh nghỉ hai ngày trở lên đều bị loại và phải học lại khóa kế tiếp.
Lễ măn khoá 1 BĐQ dưới quyền chủ tọa của Trung Tướng Trần văn Đôn, Tư Lệnh Quân đoàn I. Ông đă khen ngợi khóa sinh “tích cực thụ huấn” và tuyên dương TTHL/ BĐQ Đà nẵng là đơn vị duy nhất của Quân đoàn “làm việc không biết mệt mỏi, hoàn thành trách nhiệm huấn luyện tối ưu’’.
Kết quả huấn luyện qua vóc dáng, nét mặt của 100 khóa sinh tốt nghiệp so với ngày đầu đến thụ huấn, đă biến mầu da thành sạm nắng, nâu đậm (nếu không muốn nói là đen kịt), nhưng rất khoẻ mạnh vui vẻ, năng động, cương nghị, tự tin hơn nh́ều. Khóa sinh rời khỏi trung tâm cũng là lúc tất cả Huấn luyện viên được nghỉ 15 ngày phép về thăm gia đ́nh bạn hữu.
Trung tuần tháng 8 năm 1960, Team A 7th Special Forces măn nhiệm về nước. Thiếu tá Lê Tích Thiểu (tốt nghiệp khóa 1 BĐQ) giữ chức CHT/ TTHL/ BĐQ Đà Nẵng thay Thiếu tá Chương Phát Dưỡng.
Kể từ khóa 2 BĐQ, khai giảng vào cuối tháng 8 năm 1960, huấn luyện viên Việt nam hoàn toàn đảm nhận mọi trọng trách huấn luyện với sự tiếp tay của một số sĩ quan, hạ sĩ quan tốt nghiệp khóa 1 BĐQ được lưu giữ làm phụ tá HLV và sự yểm trợ tích cực của toán cố vấn do Thiếu tá John Warren, là cố vấn trưởng đến từ 1st Special task Forces, Okinawa.
Theo tài liệu [1] : Các đại đội Biệt Động Quân biệt lập đă thành công trong nhiều sứ mạng phản du kích trên khắp các chiến trường, khiến cho du kích phỉ cộng bị tiêu diệt khá nhiều. Đó là sự góp phần không nhỏ về công lao huấn luyện khắt khe, kỹ lưỡng và đa năng của ba Trung Tâm Đồng Đế , Ḥa Cầm và Sông Mao.
3. Thành Lập Binh Chủng Biệt Động Quân
Theo tài liệu [7] : Trong khái niệm thuật ngữ quân sự Việt Nam Cộng ḥa, Biệt Động Quân tương ứng với Lực lượng Ranger trong Lục Quân Hoa Kỳ. Ngoài ra, một số lực lượng chuyên biệt khác có đặc điểm gần giống như Biệt Động Quân nhưng có chức năng hoạt động khác như Biệt Kích (Commando), Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force) Biệt Cách Dù (Airbone Ranger). Hầu hết các lực lượng này đều có nguồn gốc từ Biệt Động Quân và về sau h́nh thành những Binh chủng riêng biệt trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Theo tài liệu [6] : Ngày 01 tháng 7 năm 1960, Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa chính thức thành lập một binh chủng mới với danh xưng Biệt Động Quân.
Quân nhân Biệt Động Quân mang mũ nồi (beret) màu Nâu, tượng trưng cho màu máu thấm vào đất mẹ, huy hiệu trên Mũ Nâu là một mũi tên có cánh gọi là Thần Tiễn, biểu tượng cho sự nhanh chóng và hữu hiệu.

Mũ nồi (beret) Biệt Động Quân – H́nh trích từ tài liệu [6]
Bởi từ những ngày đầu thành lập chỉ hoạt động vào ban đêm, nên một đầu Cọp màu Đen được chọn làm huy hiệu truyền thống cho binh chủng. Nền màu Vàng trên huy hiệu tượng trưng cho nền Cộng Ḥa, ngôi sao Trắng là biểu tượng cho sự sáng suốt và chính nghĩa. Viền đỏ bao quanh ngôi sao mang ư nghĩa lấy máu để bảo vệ chính nghĩa. Thánh tổ của binh chủng: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Lời tâm nguyện truyền thống của binh chủng Biệt Động Quân: V́ Dân Quyết Chiến. Riêng đầu Cọp Đen có 13 răng là do sự ngẫu nhiên lúc vẽ mẫu huy hiệu của Đại Úy (Đại tá) Nguyễn Thành Chuẩn .

Kỳ hiệu Bộ Chỉ Huy Biệt động Quân – H́nh trích từ tài liệu [6] & [10]
Lúc mới thành lập, có tất cả 50 Đại Đội Biệt Động Quân được tổ chức ở các Quân Khu, 18 đại đội cho các Sư Đoàn Bộ Binh và trung đoàn biệt lập. Cùng lúc đó, hai Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân cũng bắt đầu hoạt động, một ở Ḥa Cầm, xă Ḥa Sơn, quận Ḥa Vang, tỉnh Quảng Nam (hướng Tây thành phố Đà Nẵng khoảng 12 cây số) và một ở Sông Mao (Chợ Lầu), xă Hải Ninh, quận Bắc B́nh, tỉnh B́nh Thuận (hướng Bắc Sài G̣n chừng 275 cây số). Tính tới cuối năm 1960 , có 75 Đại Đội Biệt Động Quân được thành lập, riêng Quân Khu 5 th́ có 55 đại đội hoạt động v́ vùng đồng bằng sông Cửu Long là nơi cộng phỉ thường xuyên khủng bố, phá hoại nhiểu hơn cac Quân Khu khác .
Vào ngày khai sinh binh chủng, một Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân cũng được thành lập ở thủ đô Sài G̣n với các vị: Thiếu tá Lữ Đ́nh Sơn, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, Đại úy Nguyễn Thành Chuẩn, v.v. Cố vấn yểm trợ là Đại úy William Mills (Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân ban đầu nằm chung trong khu vực của Bộ Tổng Tham Mưu).

Kỳ hiệu Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân – H́nh trích từ tài liệu [10]
Đến giữa năm 1965, mới dời bộ chỉ huy về Trại Hoàng Diệu trên đường Tô Hiến Thành, quận 10 thủ đô Sài G̣n có nhiệm vụ quản trị, điều hành, bổ sung quân số, trang bị, thanh tra, theo dơi,thống kê các hoạt động của tất cả các đơn vị BĐQ.
Năm 1968, doanh trại này mang tên mới Trại Đào Bá Phước, là danh tính của cố Đại tá Liên Đoàn Trưởng, LĐ 5 BĐQ, tử thương ngày 02 tháng 6 năm 1968 tại mặt trận Chợ Lớn (đợt hai) v́ trực thăng Mỹ bắn lầm .
Chỉ huy Trưởng đầu tiên của binh chủng là Thiếu tá Phan Trọng Chinh, kế tiếp là Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng, Chuẩn Tướng Lam Sơn, Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, Trung Tá Trần Văn Hai, Trung tá Trần Công Liễu và cuối cùng là Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Ban Tham Mưu gồm có: Chỉ huy Phó kiêm Tham Mưu trưởng, Pḥng quản trị nhân viên, Pḥng kế hoạch và điều hành, Pḥng Tiếp Vận và Tiếp liệu, Pḥng tâm lư chiến và xă hội, Pḥng an ninh, và trung đội canh gác.
Riêng vùng châu thổ sông Cửu Long thuộc Quân Khu 5, v́ có tới 55 đại đội BĐQ hoạt động ở đây nên một Bộ Chỉ Huy BĐQ cấp chiến thuật cũng được thành lập ở Cần Thơ, do Thiếu tá Trần Văn Cường làm Chỉ Huy Trưởng, Đại úy Nguyễn Khắc Trường làm Tham Mưu Trưởng. Những sĩ quan BĐQ ở Quân Khu 5 sau này đều trở thành những cấp chỉ huy nổi tiếng trong binh chủng như Đại úy Phạm Văn Phúc, Hoàng Kim Thanh, Sơn Thương, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Đương, Nguyễn Văn Huy, Trung úy Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Thành Nguyên, Dương Kim Văn, Đoàn Thi, Nguyễn Văn Biết, Lê Tấn Paul, Lê Hưng Phú, v.v.
Theo tài liệu [7] : Mặc dù h́nh thành Bộ Chỉ Huy riêng, nhưng trên thực tế, các Đại Đội Biệt Động Quân tác chiến theo sự chỉ huy của các Tư Lệnh Sư Đoàn hoặc Tiểu Khu Trưởng tại địa bàn hoạt động. Bộ Chỉ Huy Trung Ương chỉ có nhiệm vụ quản trị, điều hành, bổ sung quân số, huấn luyện, trang bị, thanh tra, theo dơi, thống kê, báo cáo các hoạt động của các đơn vị Biệt Động Quân trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa.
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Ḥa Cầm do Thiếu tá Chương Phát Dưỡng làm Chỉ Huy Trưởng- Giữa tháng 8 năm 1960, Thiếu tá Lê Tích Thiếu, Khóa 1 BĐQ, thay thế làm Chỉ Huy Trưởng ;
Sĩ quan huấn luyện gồm có :
Đại Úy Nguyễn Văn Đại : Trưởng toán;
Đại Úy Trần Văn Hai : Phó toán;
Đại Úy Vơ Công Trí;
Đại Úy Nguyễn Hoành Bảo;
Đại Úy Cao Quốc Điền;
Đại Úy Cao Văn Chơn;
Trung Úy Nguyễn Văn Xiển;
Trung Úy Nguyễn Kim Biên;
Trung Úy Phạm Quang Văn;
Trung Úy Nguyễn Văn Vy;
Trung Úy Hoàng Tôn Oai.
Hầu hết các sĩ quan Việt Nam đă nêu trên đều tốt nghiệp các khóa về BĐQ ở Trường Ranger tại Fort Benning, tiểu bang Georgia–Hoa Kỳ trong các năm 1958, 1959 và 1960.
Toán cố vấn huấn luyện của Liên Đoàn 77 Lực Lượng Đặc Biệt ỏ Ḥa Cầm gồm có :
Trưởng Toán Thiếu tá Melbourne G. Slade, người kế nhiệm là Thiếu tá John Warren của Liên Đoàn 1 Lực Lượng Đặc Biệt ;
Đại Úy James W. Jones;
Đại Úy Hall W. Crimmelt;
Đại Úy Rudolph R. Kaiser;
Trung Úy Gerald M. Wynn;
Thượng Sĩ James W. Schumacher;
Thượng Sĩ Wiley W. Ray;
Trung Sĩ Thomas J. Wood;
Trung Sĩ Earl S. Flowers : Y tá;
Đại Úy Snyder : Quân báo;
Trung sĩ Walter (Tâm lư chiến).
Nhân sự của Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quạn ở Sông Mao gồm có :
Đại Úy Đỗ Văn Sáu : Chỉ Huy Trưởng;
Đại Úy Hồ Văn Phước : Trưởng toán;
Đại Úy Trần Công Liễu : Phó toán;
Đại Úy Đào Vĩnh Th́;
Đại Úy Trần Hữu Toán;
Đại Úy Nguyễn Văn Ni;
Trung Úy Ngô Minh Hồng;
Trung Úy Quan Minh Tống;
Trung Úy Nguyễn Văn Sảo;
Trung Úy Phan Văn Cẩm.
Toán cố vấn huấn luyện Liên Đoàn 77, LLĐB ở Sông Mao :
Trưởng toán : Thiếu tá Kenneth R. Beard;
Đại Úy Jack Spital;
Đại Úy Reynold E. Price;
Trung Úy Freddie H. Boyd;
Thượng Sĩ Kenneth R. Chadwick; Vũ khí;
Trung Sĩ George D. Roraback;
Trung Sĩ Wylie H. Newton;
Trung Sĩ Earl M. Peckham;
Trung Sĩ Charles W. Allen;
Đại Úy Fuselier : Quân báo;
Trung Úy Perez : Tâm lư chiến.
ChỈ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Đồng Đế là Thiếu Tá Đặng Văn Sơn;
Các cố vấn huấn luyện của Trung Tâm gồm có :
Đại Úy Raymond L. Call : Trưởng toán;
Đại Úy Jamie R. Hendrix : Phó toán;
Đại Úy George E. Carr;
Trung Úy Ronald K. Summers;
Thượng Sĩ Jacques A. Standing;
Thượng Sĩ Gregory A. Mattep : Y tá;
Thượng Sĩ Howard Kristofferson;
Trung Sĩ Virgil Murphy : Công binh;
Trung Sĩ Robert G. Grisham;
Thiếu tá Marcott : Quân báo;
Đại Úy McConnanghey : Tâm lư chiến.
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Trung Ḥa gồm có :
Đại Úy Trần Đ́nh Nai : Chỉ Huy Trưởng;
Sĩ quan huấn luyện :
Đại Úy Phạm Văn Phúc: Trưởng toán;
Đại Úy Hoàng Kim Thanh: Phó toán;
Đại Úy Nguyễn Văn Đương ;
Trung Úy Dương Kim Vân;
Trung Úy Lê Hưng Phú;
Trung Úy Nguyễn Thành Nguyên.
Trưởng toán cố vấn huấn luyện : Thiếu tá Thomas Anderson (?) .
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Trung Ḥa đặt tại xă Trung Lập, quận Củ Chi, tỉnh B́nh Dương, hướng Tây Bắc cách trung tâm Sài G̣n khoảng 32 cây số. Đầu tháng 2 năm 1968, Trung tá Trần Đ́nh Nại bị tử thương do việt cộng phục kích ở Củ Chi. Người kế nhiệm ông trong chức vụ này là Thiếu tá Trương Văn Oành. Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ ở Trung Ḥa đến tháng 12 năm 1968 th́ chính thức ngưng hoạt động. Kể từ đây những Tiểu Đoàn BĐQ ở Quân Khu III và QK IV khi học bổ túc đều phải ra Trung Tâm chính ở Dục Mỹ .
Các toán cố
vấn huấn luyện thuộc Liên Đoàn 77, LLĐB :
Chỉ Huy Trưởng : Trung tá William Ewald;
Chỉ Huy Phó ;Đại Úy Elmer E. Monger.
Bộ Chỉ Huy và Kiểm Soát đặt ở Nha Trang. Những toán cố vấn Huấn Luyện Lưu Động (Mobile Training Team–MTT) ở Thất Sơn, Cần Thơ, Mỹ Tho, v.v. của Liên Đoàn 1, LLĐB do Đại tá Lewis Millet chỉ huy tổng quât, Bộ Chỉ Huy đặt tài Sàig̣n.
Khóa 1 BĐQ
Việt Nam Cộng Ḥa măn khóa đầu tháng 8 năm 1960 ở
Ḥa Cầm với sự chủ tọa của Trung tướng
Trần Văn Đôn, Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1 Chiến
Thuật;
Khóa 2 BĐQ Việt Nam Cộng Ḥa măn khóa giữa tháng 9
năm 1960 tại Đồng Đế ;
Khóa 3 BĐQ Việt Nam Cộng Ḥa măn khóa đầu tháng 10 năm 1960 ở Sông Mao;
Khóa 4 BĐQ Việt Nam Cộng Ḥa măn khóa ngày 15 tháng 11 năm 1960 tại Đồng Đế .
Tính tới tháng 12 năm 1960, tất cả các sĩ quan và hạ sĩ quan thuộc toán Cố Vấn Huấn Luyện cho Biệt Động Đội và Biệt Động Quân đều rời khỏi Việt Nam. Phía Mỹ từ đây bắt đầu soạn thảo một chương tŕnh khác cho Biệt Động Quân là giai đoạn Cố Vấn Yểm Trợ (tác chiến).
4. Thành Lập Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ

Cổng Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ - H́nh trích từ tài liệu [6]
Bản đồ căn cứ Dục Mỹ -H́nh trích từ tài liệu [6]
Theo tài liệu [1] & [9] : Do những sự thành công rực rỡ trong các công tác diệt trừ cộng phỉ bởi các đại đội Biệt Động Quân biệt lập và trước quy mô chiến tranh mở rộng , ngày 01 tháng 8 năm 1961, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa quyết định sáp nhập ba TTHL/ BĐQ (ban Huấn luyện chuyên biệt) Đà Nẵng (Ḥa Cầm) ,Sông Mao và Nha Trang (Đồng Đế) , để thành lập một Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân với tầm vóc quy mô hơn, đạt nhiều hiệu quả hơn, song song với đà mở rộng và gia tăng thêm nhiều Đại Đội Biệt Động Quân Biệt Lập mới nữa.
Cũng thời gian này TTHL/ BĐQ Trung Hoà và Thất Sơn được sát nhập thành TTHL/ BĐQ Trung Lập chuyên huấn luyện các Đại đội và Tiểu Đoàn BĐQ. Đại uư Trần Đ́nh Nại nguyên là HLV tại TTHL/ BĐQ Đà Nẵng đuợc chỉ định giữ chức CHT TTHL/ BĐQ Trung Lập và Thiếu tá Tom Henry làm Cố Vấn Trưởng.
Theo tài liệu [1] & [3] : Địa điểm đồn trú của Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân mới sáp nhập, tọa lạc tại địa điểm được sửa sang lại toàn bộ từ doanh trại hoang phế của Trung tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 23 Bộ Binh đă di chuyển đi nơi khác, cộng thêm một phần đất của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh (cũng đă di chuyển) tại Dục Mỹ thuộc xă Ninh Sim, quận Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa để làm nơi huấn luyện, cho nên thường gọi là Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ.
Phần đất c̣n lại của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh được trường Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa từ B́nh Dương dời về tọa lạc.
1. Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, huấn luyện và đào tạo Tân Binh và Hạ Sĩ Quan Bộ Binh.
2. Trường Pháo Binh, huấn luyện và đào tạo về căn bản chuyên môn của ngành này.
3. Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, chuyên huấn luyện và đào tạo về căn bản tân binh Biệt Động Quân. Các khóa chiến thuật hành quân biệt động như: "Rừng Núi Śnh Lầy", chiến thuật "Hành Quân Viễn Thám" và bổ túc chiến thuật hành quân đơn vị cấp Đại đội, Tiểu đoàn.
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (QLVNCH) , KBC 4926, tọa lạc cạnh Quốc Lộ 21, kế bên thị trấn Dục Mỹ thuộc xă Ninh Sim, quận Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa, nằm về phía Tây Bắc thị trấn Ninh Ḥa khoảng 15 cây số và thành phố Nha Trang khoảng hơn 40 cây số.
Trung Tâm này nằm trên độ cao khoảng 30 mét (98 feet) so với mặt biển, chiếm diện tích khoảng 7 mẫu (hectare) kế bên Suối Bông của Dục Mỹ, chưa tính hơn một mẫu đất nằm đối diện bên kia đường, nơi đặt Bộ Chỉ Huy MACV cho Huấn Khu Dục Mỹ, Bộ Chỉ Huy Cố Vấn Biệt Động Quân.
Ngoài ra c̣n có một sân bay dă chiến giáp ranh Ban Chỉ Huy MACV cũng được thiết lập, phi đạo này dài 975 mét (3,200 feet) dành cho máy bay trực thăng, quan sát (L–19) và máy bay vận tải loại C–123 và C–7.
Theo tài liệu [4] : Sân bay này dùng để phục vụ cho việc vận chuyển và huấn luyện lính tại Trung Tâm Dục Mỹ ,cho tới năm 1975 th́ không c̣n sử dụng nữa.
Trung Tâm này thường xuyên có quân số gần 3,000 quân nhân, bao gồm hơn 500 nhân viên, cán bộ huấn luyện và hơn 2,000 khóa sinh của 9 khóa thường xuyên duy tŕ theo lịch tŕnh huấn luyện của trung tâm. Ngoài ra c̣n có hai Đại Đội BĐQ là 301, 302 cũng được giải tán để sáp nhập vào TTHLBĐQ ở Dục Mỹ. Quân nhân hai đại đội nói trên có trách nhiệm canh gác, giữ an ninh cho Trung Tâm hoặc cung cấp nhân sự ở các băi tập cho Khối Huấn Luyện .
Từ Núi Đeo xuống vừa hết dốc hướng về Trung Tâm, bên phải là xạ trường rộng lớn. Ngay đầu con đường đất đi vào xạ trường có một tấm bia đúc bằng xi–măng sơn màu nâu cao 2 mét, rộng 1 mét. Trên bia ghi những chữ màu vàng kể sơ lược về sự h́nh thành Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ và thiết lập xạ trường, phía dưới ghi danh tính các vị đă góp công sức tạo nên trung tâm từ những ngày đầu như: Thiếu tá Vĩnh Biểu, Đại úy Trần Văn Hai, Đại úy Trần Công Liễu, Đại úy Cao Văn Ủy, Đại úy Nguyễn Văn Đương, v.v. Bên trái Quốc Lộ 21 đối diện xạ trường được thiết trí một tấm bảng sắt cao 20 thuốc rộng 40 thước. Tấm bảng sắt khổng lồ này sơn màu đen, được viết ba chữ lớn “L̉ LUYỆN THÉP” màu trắng, góc phải phía trên của tấm bảng là một mũ nâu bằng sắt cũng thật lớn. Đứng xa vài cấy số cũng thấy được tấm bảng này.
Lúc TTHLBĐQ ở Dục Mỹ mới đi vào hoạt động, nhiều sĩ quan BĐQ có kinh nghiệm huấn luyện được thuyên chuyển về đây như : Trần Công Liễu, Cao Văn Ủy, Nguyễn Văn Đương, Ngô Minh Hồng, Nguyễn Ngọc Giao, Trần Bá Tuấn, Nguyễn Thành Định và Đại úy Trần Văn Hai.
Vào lúc này, khu vực của trung tâm chỉ là một doanh trại cũ nhiều cỏ dại, trước kia là bản doanh của Sư Đoàn 15 Khinh Chiến. Các lớp học, nơi ăn và nghỉ của khóa sinh, những văn pḥng làm việc của nhân viên, cán bộ huấn luyện, v.v. chỉ là những căn nhà lợp tôn đă cũ hoặc các căn lều dă chiến được tạm thời dựng lên.
Thời tiết tại Dục Mỹ nói chung chỉ có hai điểm chính : Ban ngày nóng cháy da, ban đêm lạnh thấu xương, chưa kể sương mù, mưa phùn dai dẳng và bệnh sốt rét rất phổ biến ở vùng này.
Để có được một Trung Tâm huấn luyện bề thế, ngăn nắp và đẹp mắt, các sĩ quan Việt cũng như Mỹ ngoài giờ đảm trách huấn luyện, cũng sốt sắng cởi áo chạy ra làm việc cùng với quân nhân của Đại Đội 320 Công Binh. Dù là người trong ban chỉ huy của Trung Tâm, Trưởng Khoa Rừng Núi Śnh Lầy nhưng Đại úy Trần Văn Hai luôn là người nhiệt tâm nhất trong việc thiết kế Trung Tâm này. Ông đă tự học lái xe ủi đất và xông xáo làm việc khắp nơi. Chính ông đă căng dây, đo đạc và thiết kế một sân cờ tráng nhựa rộng lớn, mỗi cạnh dài đúng 125 thước. Ông chia ra từng lô đất vuông vắn, tạo nên những con đường thẳng tắp đến mức các cố vấn Mỹ đặt ông một biệt danh là Hai “Highway”.
(Chú thích : Chữ ‘’Highway’’ tiếng Việt là Xa Lộ , đọc là ‘’hai-uê’’ , trong đó có âm thanh ‘’Hai’’ ,tên của Đại úy Trần Văn Hai ).
Sau này ông thăng cấp Thiếu tá làm Trưởng Khối Huấn Luyện và rời Trung Tâm, nhưng các câu chuyện về ông thời mới khai mở “Ḷ Luyện Thép” vẫn c̣n được ghi nhớ, được nhiều cán bộ kể lại cho khóa sinh chúng tôi về một vị sĩ quan công minh, tận tâm và liêm chính.
Hơn nửa theo tài liệu [2] : Đại Úy Trần Văn Hai là một nhân vật đặc biệt của Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ, v́ nhân vật này đă góp công lao tích cực để làm nên cái danh xưng “L̉ LUYỆN THÉP” một cách đầy đủ trách nhiệm .
Ông xuất thân khóa 7 Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam (Đà Lạt), đă từng được đào tạo tại Hoa Kỳ, làm Huấn Luyện Viên trong Ban Huấn Luyện Chuyên Biệt về BĐQ tại Đà Nẳng.
Khi thành lập Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ, ông đă là Đại Úy và được điều phối về Ban Chỉ Huy Trại, để kiến tạo bộ mặt của Trung Tâm từ một doanh trại gần như bỏ hoang của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, để trở thành một bộ mặt mới khang trang đẹp mắt. Ông đă điều khiển chiếc xe ủi đất làm việc gần như suốt ngày đến nửa đêm, trong cả nhiều tháng liên tiếp, mới hoàn thành được công tác nặng nhọc của ḿnh.
Sau đó,ông được bổ nhiệm thành lập lớp học Hành Quân Biệt Động Rừng Núi Śnh Lầy với chức vụ Trưởng Lớp. Cũng trong vai tṛ này, ông đă để lại cho Trung Tâm một lề lối huấn luyện gần như toàn hảo cho lớp Rừng Núi Śnh Lầy (RNSL), mà măi măi về sau khi ông đă rời khỏi Trung Tâm để đi nhận nhiệm vụ khác, lề lối huấn luyện đó vẫn được duy tŕ cho đến ngày ră nghé tan đàn.
Đức độ và tác phong làm việc của ông, nhằm đào tạo người cán bộ đă từng học qua lớp RNSL này, một tinh thần chịu đựng gian khổ, hiểm ngu. đủ khả năng chống chọi lại với bất cứ sự thử thách nào trong chiến đấu sống c̣n với giặc cộng.
“Nhanh như Sóc, mạnh như Hổ, Gan Dạ Dũng Cảm và Bất Khuất“, gần như là những tiêu chuẩn được đề ra cho lớp RNSL này. Chính bản thân ông sau cùng cũng đă nêu cái tinh thần dũng cảm bất khuất đó, bằng cách tự sát giữa cơ binh trong ngày 30-4-1975 tối đen của lịch sử, khi ông với chức vụ Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Căn Cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho), v́ quyết không chịu đầu hàng giặc cộng. Quả thật, hào khí của Ông c̣n để lại sáng ngời trong ḷng thương tiếc của mọi người !
Tuy ông không làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm một ngày nào, nhưng hầu hết các khóa sinh theo học lớp RNSL, cũng Dây Tử Thần như ở cửa miệng mọi người, khi nói đến lớp học này như một “Ḷ Tôi Luyện” những con người “ Thép” sau khi măn khóa, đều nhắc đến tên ông như một con chim đầu đàn, hoặc một người anh cả đáng nễ v́, mà đúng như vậy thật, v́ bản thân ông cũng đă băng rừng, lội suối, trèo đèo theo sát khóa học từng bước cả ngày lẫn đêm, da thịt cũng rám nắng phong trần như khóa sinh.
Ông đă giữ ǵn từng chút một cái kỷ luật của lớp học, cái chất lượng của sự huấn luyện, mà cả ông cũng phải ḥa ḿnh vào đó. Cho nên gọi ông là con chim đầu đàn của Ḷ Luyện Thép cũng không có ǵ là tâng bốc hay khiêng cưỡng..
Ôi con chim đầu đàn của Ḷ Luyện Thép đă găy cánh ! Nhưng găy cánh một cách anh hùng, cũng như hàng trăm hàng ngàn những con chim đă từng được rèn luyện trong cái lồng RNSL kia, đă găy cánh trên khắp các chiến trường của Miền Nam Việt Nam trước đây. Họ đă găy cánh trong danh dự và trách nhiệm của một người Chiến Sĩ Cộng Ḥa, mà sự lanh lẹ, gan dạ, dũng cảm, thiện chiến và chịu đựng gian khổ của họ, không hổ danh là một thành viên của Ḷ Luyện Thép nói trên. Cho dù mũi đạn có vô t́nh cướp đi đời họ, họ cũng ngậm cười nơi chín suối, khi gặp lại chính “cánh chim đầu đàn kia” đă thể hiện được tinh thần của lớp học một cách rạng ngời…’’.

Đại tá Trần Văn Hai- Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung Ương, từ năm 1966-1968 – H́nh trích từ tài liệu [10]
Tháng 7 năm 1970, Đại tá Trần Văn Hai được thăng cấp Chuẩn Tướng.
Tối ngày 30/4/1975, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đă uống thuốc độc tử tiết.Thi hài của Chuẩn Tướng được Mẹ già đưa về G̣ Vấp an táng (tài liệu [11] ).
Từ ngày thành lập ngày 01 tháng 8 năm 1961 đến
năm 1975, Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ QLVNCH đă có các
vị Chỉ Huy Trưởng như sau :
Thiếu tá Vỉnh Biểu (1961-1962);
Trung tá Đặng Văn Sơn (1962-1964);
Trung tá Nguyễn Văn Kiện (1964-1966);
Trung tá Trần Công Liễu (1966-1968);
Trung tá Nguyễn Hữu Phú (1969);
Đại tá Nguyễn Khắc Trường (1969-1972);
Đại tá Nguyễn Văn Đại (1973-1975);
Chỉ Huy Phó ; Trung tá Lâm Duy Tiên;
Trưởng Khối Huấn Luyện : Thiếu tá Huỳnh Thiên Mạng.
Sau đây là danh sách các Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ trích từ tài liệu [1]
Họ và tên - Cấp bậc -Tại chức - Chú thích
1 -Vĩnh Biểu-Vơ Bị Địa Phương Trung Việt K2 (Đập Đá, Huế) -Thiếu Tá - Sau cùng là Đại Tá phụ tá Thiếu Tướng Hoàng Văn Lạc Tư lệnh Phó Lănh thổ Quân khu 1 ;
2 -Đặng Văn Sơn-Trường Hạ Sĩ Quan Pháp -Trung Tá -Giải ngũ ở cấp Đại Tá;
3 -Nguyễn Văn Kiên - Trung Tá -Giải ngũ cùng cấp ;
4 -Trần Công Liễu-Vơ Bị Đà Lạt K8 -Thiếu Tá -Sau cùng là Đại Tá Thị Trưởng Cam Ranh; ;5 -Nguyễn Hữu Phú -Trung Tá -Giải ngũ cùng cấp ;
6 -Nguyễn Khắc Trường-Vơ Bị Đà Lạt K5 -Trung Tá -Sau cùng là Đại Tá Tham Mưu Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung Ương ;
7 -Nguyễn Văn Đại-Vơ Bị Đà Lạt K5 -Đại tá - Chỉ Huy Trưởng kiêm Xử lư thường vụ Chỉ Huy Trưởng Biệt động quân Quân khu 2 thay cho Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất vào những ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1975 .
5. Hệ Thống Tổ Chức Của Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ (Xem sơ đồ dưới đây)
Sơ đồ TTHLBĐQ ở Dục Mỹ - H́nh trích từ tài liệu [6]
Bộ Chỉ Huy Trung Tâm với các Pḥng 1,2,3,4,5 và 6;
Trung Tâm Hành Quân (điều phối các đại đội khóa sinh đi ứng chiến nhiều nơi vào mỗi đêm ở Huấn Khu Dục Mỹ;
Pḥng An Ninh (ngăn ngừa nội tuyến xâm nhập , phá hoại từ việt cộng;
Đại Đội Quân Y và một bệnh xá trung cấp với 120 giường ;
Ban Kiểm Soát Ẩm Thực và Y Tế (mỗi ngày xuống nhà bếp khám mức độ vệ sinh và dinh dưỡng của các món ăn, kiểm tra thực phẩm từ các nhà thầu tư nhân, kiểm soát mức độ sạch sẽ khu nhà tắm, đổ rác và khu vực nhà vệ sinh, giám sát việc bắt buộc mỗi khóa sinh phài uống thuốc chống sốt rét (Cloroquin) mỗi tuần một lần;
Ban Cố Vấn Liên Lạc Yểm Trợ (đối diện bên phải trước cổng Trung Tâm);
Đại Đội Truyền Tin, nơi quản trị một đài siêu tần số trung cấp, nơi lưu trữ khoảng 100 máy PRC–25, mỗi đêm phát ra cho những đại đội trực chiến, sáng thu về, điều hành một tổng đài truyền tin cho toàn hệ thống liên lạc trong Trung Tâm;
Đại Đội Hành Chánh, Tài Chánh (theo dơi quân số, nhận và phát thư tín, lương bổng của nhân viên và khóa sinh) ;
Đại Đội Công Vụ, nơi phân phối các tân binh chờ nhập khóa đi làm tạp dịch những nơi có yêu cầu;
Đại Đội Quân Xa (chở huấn cụ, cơm nước đến các băi tập, chở các đại đội đi trực chiến mỗi đêm, chở tân binh từ phi trường Nha Trang về Dục Mỹ, và đưa khóa sinh đă măn khóa đến Nha Trang quản trị kho nhiên liệu và cơ xưởng bảo tŕ ;
Đại Đội Ẩm Thực Vụ (quản tri một kho gạo 1,000 tấn, cùng các kho tích trữ thực phẩm khô, điều hành một nhà máy bơm nước ngay đầu cầu Dục Mỹ (Suối Bông) và trung tâm lọc, phân phối nước ở rừng thông kế trung tâm truyền tin;
Đại Đội Quân Cụ (lưu trữ, bảo tŕ hơn 3,000 súng cá nhân và cộng đồng, quản trị kho đạn 10,000 tấn (trước cổng Trường Pháo Binh) cho toàn Huấn Khu Dục Mỹ;
Đại Đội Quân Nhu (yểm trợ huấn cụ và quân trang);
Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị (Xă hội và Tâm lư chiến ;
Đại Đội 320 Công Binh thuộc Tiểu Đoàn 3 Yểm Trợ Công Binh BĐQ (nằm đối diện bên trái trước cổng Trung Tâm;
Liên Đoàn Khóa Sinh (Tiểu Đoàn A và B là khóa sinh BĐQ, Tiểu Đoàn C là khóa sinh Viễn Thám và Rừng Núi Śnh Lầy;
Phân Đội Quân Cảnh Biệt Động Quân 305;
Khối Huấn Luyện với các Khoa :
Ø Khoa Vũ Tác Ḿn (Vũ khí, Tác xạ, Ḿn bẫy) ;
Ø Khoa Chiến Thuật ;
Ø Khoa Chiến Tranh Chính Trị;
Ø Khoa Rừng Núi Śnh Lầy, Viễn Thám;
Ø Khoa Tổng Quát (tiểu đoàn học bổ túc, cơ bản thao diễn, lễ nghi chào kính, thể dục, cận chiến có vũ khí và Vơ thuật ;
Theo tài liệu [9] : Pḥng Huấn luyện là quan trọng nhất gồm có các ban: Ban Nghiên cứu, Ban Kế Hoạch, Khoa Chiến Thuật, Khoa Tổng quát và Vũ tác Ḿn, Ban trợ huấn cụ. Pḥng này phụ trách huấn luyện:
Ø Khoá căn bản BĐQ cho tân khóa sinh ;
Ø Khoá Rừng Núi Śnh Lầy;
Ø Khoá bổ túc TĐ/ BĐQ;
Ø Khóa Viễn Thám.
6. Tổ Chức và Hoạt Động của các Đại Đội Khóa Sinh
‘’Vào trường Biệt Động trắng bông ,
Ra Ḷ Luyện Thép như ông tượng đồng’’
Các tân binh BĐQ từ bốn quân khu đưa về đây, trong thời gian chờ nhập khóa phải ở tại khu vực Đại Đội Công Vụ (ngay góc hàng rào trước cổng Trường Pháo Binh).
Sáng mỗi ngày ,các tân binh được chia ra đi làm tạp dịch và chưa có bảng danh số may trên túi áo.
Khi khóa sinh từ khắp các đơn vị gởi đến học, vào tŕnh diện xong là phải tháo cấp bậc ra. Sĩ quan th́ may một miếng "vải đỏ" khoảng gấn 2 phân vuông nơi bâu áo, Hạ Sĩ Quan th́ miếng "vải xanh". Mỗi người có một số thứ tự, và từ đó cho đến ngày măn khóa, người ta chỉ gọi những khóa sinh này bằng số thứ tự đó, chứ không gọi bằng tên và cấp bậc nữa.
Sau khi được nhập khóa (200 người), sẽ tự xưng ḿnh là: “BĐQ danh số” trước cán bộ và gọi theo cấp bậc.
Sau buổi lễ nhận cờ nhập khóa, tối hôm đó sẽ có cán bộ bên Quân Nhu tới đại đội, lập danh sách, đo thước tấc từng người để sau này măn khóa sẽ được phát một bộ đồ rằn ri đúng theo kích thước của ḿnh. Sáng hôm sau toàn đại đội lên bệnh xá để chích mỗi người một mũi TAB (Titanot–Anticlorler–Bacterium (nhờ mấy anh quân y xác nhận giùm)). Khóa sinh được lănh lương căn bản mỗi tháng nhưng chưa được lănh phụ cấp hành quân.
Sau khi nhập khóa, ngoài quân trang cá nhân c̣n được phát một ba lô, một dây ba chạc, hai bi đông đựng nước, nón sắt, được trang bị súng cá nhân và 6 băng đạn như quân nhân tác chiến (không có ḿn, lựu đạn, súng cộng đồng), ban đầu là súng Garand (1961–1967), sau thay bằng AR–15 (1968–1970) rồi tới XM–16 (1970–1975).
Theo tài liệu [3] : Mỗi người phải chuẩn bị một cái "Ba Lô" mà lúc nào cũng phải vuông vắn gọn gàng, bên trong đựng cát, và lúc nào cũng phải đeo sau lưng cho đến khi có lệnh được tháo ra. Tuần lễ đầu số cát chứa bên trong khoảng 5 kư, càng về sau càng phải chứa nhiều hơn, và phải đạt được mức ấn định của lớp học đề ra. Thường th́ từ 15 đến 20 kư lô.
Mỗi khóa sinh được cấp phát một súng trường Garand M1 không có giây đeo, và một cấp số đạn. Súng lúc nào cũng phải cầm bằng hai tay chéo ngang trước ngực, trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Mỗi sự di chuyển của khóa sinh dù là một ḿnh hay cả toán, cũng đều phải Súng Cầm Tay Chạy, cử động lúc nào cũng phải lanh lẹ gần như là một cái máy.
Theo tài liệu [6] :
Đại đội khóa sinh chọn ra ba người cao lớn nhất để mang cờ đi trước hàng quân. Lá cờ h́nh tam giác dài, màu nâu, một bên mang số hiệu của khóa, một bên có ba chữ BĐQ, cờ rộng khoảng 30 phân, dài chừng 60 phân, chung quanh có tua vàng. Mỗi đại đội khóa sinh được chia làm bốn trung đội.
Có một ban đại diện cho đại đội, gồm hai hạ sĩ quan cán bộ của Trường hướng dẫn suốt khóa học và những khóa sinh cán bộ được đề cử (Ban quân số dựa vào học vấn trong hồ sơ trích yếu lư lịch để chọn làm khóa sinh cán bộ).
Mỗi đại đội có một y tá, hai máy truyền tin PRC–25, một máy để ở văn pḥng đại đội và một máy mang theo đi các băi tập.
Khóa sinh Đại Đội Trưởng mang trước ngực một bảng nhựa bằng ba ngón tay, màu đỏ và có hai gạch trắng nằm ngang, khóa sinh Đại Đội Phó cũng mang một bảng như vậy nhưng nền màu xanh dương với hai vạch trắng
Khóa sinh Trung Đội Trưởng mang một bảng đỏ nhỏ hơn và một vạch màu trắng, khóa sinh Trung Đội Phó cũng vậy nhưng có nền màu xanh, một vạch trắng. Khóa sinh Kiểm Soát Kỷ Luật mang một bảng nhựa toàn màu đỏ.
Mỗi ba tuần một lần, Khối Huấn Luyện sẽ cộng số điểm được chấm trong các bài học bởi các Huấn Luyện Viên, rồi Liên Đoàn Khóa Sinh sẽ trao cờ đen cho đại đội nào đứng hạng chót nếu so điểm với những đại đội khác. Đại đội nào nhận cờ đen, có nghĩa là đi đâu cũng chạy (gọi là bị Cọp Rượt) : Chạy xuống nhà bàn (nhà ăn), chạy đến lớp học (trong Trung Tâm), chạy ra băi tập, chạy đi chạy về suốt ba tuần rồi chờ đợt tính điểm huấn luyện kế tiếp.
Mỗi buổi sáng khóa sinh ăn điểm tâm một ổ bánh ḿ (khóa sinh gọi là “cứt cọp”), nửa chén đường cát (nhai râu cọp), một ca sắt cà phê đen (nước đái cọp). Bữa ăn trưa và chiều gồm có cơm trộn vitamin bột, thức ăn th́ hai món là thịt ḅ kho (thịt cọp), hoặc cá mối, cá lù đù chiên, canh th́ thường là bí đao hoặc rau muống, bí đỏ hay trái su, bắp cải, v.v. nấu với tôm, tép khô, gia vị kèm theo có nước mắm ớt (nước mắt cọp). Sau bữa ăn mỗi người được hai trái chuối hoặc kẹo mè xửng, kẹo đậu phộng, nước trà đá th́ uống thoải mái.
Mỗi ba tuần, các đại đội thay phiên nhau đi coi văn nghệ do ban nhạc của Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị tŕnh diễn trên hội trường .
Trong Trung Tâm
có sân bóng rổ, sân tennis, sân đá banh, vơ đường, một
Câu Lạc Bộ Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan, năm Câu Lạc
Bộ Khóa Sinh, hai tiệm tạp hóa (có chụp h́nh), một
Niệm Phật Đường, một Nhà Nguyện Tin
Lành, tín đồ Thiên Chúa Giáo mỗi Chủ Nhật
được xe chở ra dự lễ ở Nhà Thờ Dục
Mỹ, khóa sinh theo đạo Cao Đài th́ theo lịch ta,
hai tuần một lần được đi lễ ở
một thánh thất nằm cách trung tâm khoảng 1 cây số
(ở bên tay phải về hướng Núi Đeo), nơi
đây có một cổng lớn với hàng chữ đúc
trên cao: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Ṭa Thánh Tây Ninh, Châu Đạo Khánh Ḥa. Tộc Đạo
Ninh Ḥa. Thánh Thất Dục Mỹ.
Không phải tất cả các đại đội khóa sinh
đều đi trực chiến mỗi đêm, Liên
Đoàn Khóa Sinh đă sắp xếp để mỗi ba tuần
sẽ có một đại đội được nghỉ
đêm trong Trung Tâm, không đi trực chiến. Những
nơi được ấn định canh gác thường
xuyên mỗi đêm là Xạ trường ở Núi Đeo (xa
nhất), Khu Mưu Sinh Thoát Hiểm và Đào Tẩu (kế
bên chỗ đi dây tử thần), căn cứ Tân Trúc gần
Núi Đeo, băi tập Đoạn Đường Chiến
Binh, băi tập Tác Chiến Trong Thành Phố, băi tập đổ
bộ trực thăng, kho đạn huấn khu, Bộ Chỉ
Huy MACV, sân bay dă chiến Dục Mỹ, cầu Dục Mỹ,
đồn Quân Cảnh và Cảnh Sát thị trấn Dục
Mỹ, nhà máy bơm nước của BĐQ, cầu treo bắc
qua Suối Bông đi sang sân bay dă chiến, và sung sướng
nhất là được đi trực chiến ở Khu
Gia Binh của BĐQ và Huấn Khu Dục Mỹ, buồn
chán nhất là gác ở kho đạn huấn khu .
Nếu trừ
một đại đội ở lại Trung Tâm, 8 đại
đội c̣n lại đi trực chiến th́ gần
tương đương hai tiểu đoàn. Một lực
lượng như vậy tỏa ra khắp nơi ở Dục
Mỹ th́ làm sao việt cộng lọt vào được
! Thế nhưng, dù việt cộng không lọt vô
được nhưng vẫn có người lọt ra
được. Đó là mấy con “cọp con chưa mọc
răng”, vô kỷ luật, đêm nào cũng có vài ông lén chui
hàng rào ra Dục Mỹ nhậu rượu đế, có
người say tới mức lúc ḅ trở vô nằm gục
luôn ở hàng rào. Kẻ nào bị Quân Cảnh hoặc Kiểm
Soát BĐQ tóm được ngoài phố, sẽ được
đưa về “nghỉ ngơi” trong khu Chuồng Cọp ở
Liên Đoàn Khóa Sinh. Bị bắt lần thứ hai th́ sau giờ
nằm Chuồng Cọp, phải xách chổi và xô nhựa
đi quét dọn quanh mấy khu nhà vệ sinh, quanh mấy
câu lạc bộ, không được mặc áo và đầu
bị cạo trọc. Bị bắt lần thứ ba sẽ
được Ban Quân Số làm thủ tục đưa
qua Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn làm lính bộ binh.
Những câu lạc bộ dành cho khóa sinh chỉ bán các loại
thức ăn, nước ngọt, thuốc lá, hàng tạp
hóa, chụp h́nh, đồ lưu niệm, bán bia nhưng
không bán rượu và bia cũng không bán trước 5 giờ
chiều và sau 8 giờ tối. Trừ chiều Thứ Bảy
và ngày Chủ Nhật bia mới bán suốt ngày cho tới 10
giờ đêm. V́ lư do này nên mấy đệ tử ông
“Lưu Linh” mới lén ra phố t́m thứ uống mạnh
đô hơn là rượu đế. Và khi đă lên cơn
ghiền th́ chỉ nghĩ tới rượu mà quên mất
cái chuồng cọp. Về vấn đề duy tŕ kỷ
luật ở “Ḷ Luyện Thép”, những cán bộ kỷ luật
ở đây rất nghiêm khắc, thường thẳng tay
trừng trị mấy con “cọp con” cứng đầu.
Trong số đó có hai vị thật nổi tiếng, nổi
tiếng đến mức mà khóa sinh qua nhiều thời
đă làm hai câu thơ để nói đến các ông :
Rời Dục Mỹ nhớ Thượng Sĩ Ba (Ban An Ninh, Liên Đoàn khóa sinh),
Xa công vụ nhớ ông già “Năm Phút” (Hạ Sĩ quan thường vụ, Đại Đội Công Vụ. Ông này dù phạt bất cứ h́nh thức nào cũng phải thi hành trong năm phút, làm lâu hơn sẽ bị phạt lại! ).”
Sau đây là vai tṛ của Sĩ Quan Kỷ Luật trích từ tài liệu [3] :
Đây là vai tṛ của một người mà lúc nào cũng phải sắm bộ mặt "hắc ám, lạnh như tiền" mỗi khi gặp khóa sinh, mà cũng khiến cho khóa sinh "căm ghét" hơn hết trong thời gian học tập, và khóa sinh lại cũng tỏ ra thông cảm, mến mộ hơn hết sau khi măn khóa học trở về đơn vị cũ.
Một lớp học về Căn Bản BĐQ, hay Lớp RNSL đều có hai Sĩ Quan Kỷ Luật, họ thay phiên nhau theo sát khóa sinh cả ngày lẫn đêm không lúc nào vắng mặt, đồng thời cũng là người rèn luyện sự khổ nhục, thường gọi là "Hành Xác" khóa sinh nhiều nhất. Họ chịu trách nhiệm cho điểm "Thiện Chí" mỗi một khóa sinh, và phần lớn sự Đậu-Rớt của khóa sinh trong ngày măn khóa học, cũng tùy thuộc vào điểm Thiện Chí này.
Các Sĩ Quan Kỷ Luật (SQKL) thường chỉ có các cấp bậc từ Chuẩn Úy đến Trung Úy chịu trách nhiệm theo sát khóa sinh, thỉnh thoảng cũng có cấp Đại Úy. C̣n khóa sinh theo học th́ lại có các cấp bậc từ Trung Sĩ đến Thiếu Tá, cho nên cũng là một điều khá khó khăn cho SQKL khi thi hành nhiệm vụ, nếu gặp phải khóa sinh ở cấp bậc cao hơn vi phạm những Nội Qui của lớp học. Tuy nhiên, cũng không phải v́ thế mà làm mất đi tiêu chuẩn cũng như chất lượng của khóa học. Bởi v́ SQKL tuy có cấp bậc nhỏ, nhưng là người lúc nào cũng phải giữ đúng gương mẫu kỷ luật, và phải thi hành đúng đắn trách nhiệm của ḿnh, th́ cũng không cần phải lo ǵ về hậu họa về sau. Lại nữa, hầu như khóa sinh càng có cấp bậc cao, càng tỏ ra có thiện chí học tập, luôn luôn nêu cao tinh thần kỷ luật nhiều hơn.
Bất cứ lúc nào, trừ giờ cho phép đi ngủ, Sĩ Quan Kỹ Luật hay Huấn Luyện Viên bắt phạt một khóa sinh hay cả tập thể thi hành động tác "Hít Đất" th́ phải lập tức thi hành, hoặc hô to "Phục Kích", th́ phải lập tức chạy tản ra nằm lăn ngay trên mặt đất, với tư thế vừa ẩn nấp vừa sẵn sàng tác chiến, cho dù gặp phải thế đất śnh lầy, nghiêng dốc, gai gốc, cũng không được phép chối từ và cũng không cần phải biết lư do. (Hô to "Phục Kích" ở đây là động lệnh được ấn định trước, nhằm ám chỉ quân ta đang lọt vào ổ phục kích của việt cộng.
Cho nên Khóa sinh càng chạy nằm lăn xuống đất nhanh chừng nào, th́ có khả năng tránh được lằn đạn của địch nhiều chừng ấy. Thể thức hô to Phục Kích này nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn và b́nh tĩnh trong trường hợp bị địch phục kích thật sự ngoài chiến trường sau này). Khóa sinh thi hành lệnh Phục Kích này càng nhanh càng tốt. Lề mề, chậm trễ sẽ bị phạt nhiều lần liên tiếp và bị trừ điểm Thiện Chí.
Ngay khi đang ngồi học, hay đang ăn cơm ngoài trời cũng phải sẵn sàng nghe lệnh "Phục Kích" mà hành động. Trước khi ăn cơm ở trong doanh trại, toàn bộ khóa sinh cũng phải "Hít Đất", "Hít Xà Ngang" theo đúng lệnh rồi mới được vào pḥng ăn. Thời gian ăn uống cũng rất hạn chế, ăn xong vẫn phải cầm súng chạy đến lớp học. Khẩu phần ăn của mỗi khóa sinh khá dồi dào về chất lượng và dinh dưỡng, để đủ sức theo học.
6. Thời Gian Sinh Hoạt Và Học Tập:
Mỗi sáng sớm, lúc sương mù c̣n phủ kín những bụi le, bụi lá dang, bụi c̣ ke, v.v. và thị trấn Dục Mỹ c̣n say giấc ngủ th́ trong trung tâm đă vang dội những tiếng hô:
“... Một hai, ba, bốn…
ta là Biệt Động
không thích đi xe
chỉ thích đi bộ
không thích nằm giường
chỉ thích gió sương
ta là Biệt Động
một hai, ba, bốn ! ‘’ .
Cùng với những tiếng hô là các bản hùng ca cũng nhịp nhàng vang lên khắp đất trời. Đó là lúc những đại đội khóa sinh BĐQ, Viễn Thám, Rừng Núi Śnh Lầy bắt đầu tiến ra băi tập.
Theo tài liệu [3] ; Thường xuyên khóa sinh phải chịu dưới sự huấn luyện học tập gian khổ từ 18 đến 20 giờ trong một ngày như lược thuật dưới đây :
Thức dậy từ 04 giờ sáng để làm vệ sinh cá nhân, sắp xếp chăn màn cho gọn gàng ngăn nấp, lau lại lần chót khẩu súng của ḿnh.
Sau đó là giờ Tập Thể Dục Sáng với các Huấn Luyện Viên Thể Dục Quân Sự. Khóa sinh phải chạy bộ đều bước ra khỏi Trung Tâm 5, 7 cây số, hô to khẩu hiệu "Biệt Động Sát" vang dội cả Huấn Khu Dục Mỹ.
Trở về doanh trại ăn sáng khoảng 10 phút, rồi tập họp trước pḥng ngủ với đầy đủ vũ khí, ba lô, súng đạn và tập vở, mở rộng đội h́nh để khám súng. Hàng chục Huấn Luyện Viên (HLV) chờ sẵn để khám từng khẩu súng của mỗi khóa sinh trong tư thế nghiêm trang và kỹ lưỡng. Những động tác như "bắt súng", "quay súng", "ném súng từ khóa sinh sang HLV và ngược lại" được thao tác thành thục.
Có lẽ mỗi buổi sáng khám súng này là thời gian khổ sở nhất của khóa sinh. Họ đă phải thức khuya để lau thật sạch khẩu súng của ḿnh, v́ suốt ngày đêm họ phải học tâp ngoài trời bụi cát, và bắn đạn "mă tử" đen ng̣m cả bên trong ṇng súng. Sáng sớm thức dậy, việc trước tiên là lau lại khẩu súng của ḿnh một lần nữa cho chắc ăn. Thế mà khi khám súng cũng khó ḷng tránh khỏi bị moi móc những chỗ dơ bẩn, và bị phạt hít đất, bị trừ điểm Thiện Chí. Đó là chưa kể những phần khám phụ khác như : Ba Lô không đủ kư, râu không cạo sạch, quần áo xốc xếch, không mang đủ cấp số đạn, cột giây giày không đúng kiểu vv… có nghĩa là bị "soi mói" từ chút để lănh phạt. Bởi v́ mỗi khóa sinh c̣n không đủ thời giờ ăn cho no, ngủ cho đủ giấc nữa, th́ lấy đâu thời gian để chuẩn bị gọn gàng, đúng kiểu cách ấn định, của toàn bộ con người theo như Nội Qui của lớp học đề ra.
Cho nên không ai là không bị phạt vào buổi khám súng "đáng ghét" này, có điều là bị phạt "Hít Đất" nhiều hay ít mà thôi. Tội nhất là các khóa sinh có lối sống "công tử", hoặc lối sống kiểu "bá tước" trước đây, phải chịu phạt nhiều nhất ở thời gian đầu. C̣n về sau th́ ai cũng như ai, cũng đen như "cột nhà cháy", cũng mạnh mẽ, lanh lẹ như nhau.
Đến ngày cuối khóa, tuy có mất đi vài kư lô nhưng trông cứng cỏi, hiên ngang, quắc thước, sẵn sàng lao vào bất cứ một nhiệm vụ có tính cách nguy hiểm nào của cấp trên giao phó. Lúc bấy giờ, họ cầm khẩu súng Garant MI – vật mà trước khi vào học rất nặng nề vướng víu đối với họ – nay đă "nhẹ hều" như khẩu súng Carbine.
Khám súng xong, khóa sinh phải chạy đều bước nhanh ra băi tập cho kịp giờ huấn luyện. Học xong băi tập này, lại phải chạy sang băi tập khác cách nhau vài ba cây số là chuyện cơm bữa.
Đến 10 giờ đêm mới trở về doanh trại, tắm rửa, lau súng xong là lăn đùng ra ngủ như chết, để đến 04 giờ sáng hôm sau bật ḿnh thức dậy, và lại bắt đầu cho một ngày học tập gian khổ mới. Thèm ngủ, và lúc nào cũng có thể ngủ được, là cái bịnh chung của toàn thể khóa sinh trong một hai tuần lễ đầu, về sau th́ quen dần. Thời tiết khô ráo hay ướt át không c̣n là điều quan ngại cho cơ thể của họ nữa. Cái câu "Nắng không ưa, mưa không chịu, ghét gió, kỵ mù sương" đă dần dà biến mất trong những cơ thể yếu đuối kia không biết tự bao giờ. Quần áo lúc nào cũng ướt đẫm, nếu không v́ nước mưa, th́ th́ cũng v́ mồ hôi tươm chảy dưới sức nóng thiêu đốt đáng kinh của mây trời Dục Mỹ.
Lúc mới bắt đầu lớp học vài ba ngày, hầu như khóa sinh nào cũng thấy ḿnh bị nhức đầu, cảm cúm hoặc ho khan, nhưng không ai dám khai bịnh, v́ chỉ cần một lần khai bịnh là lănh Chứng Chỉ vào ngày măn khóa, chứ không đủ điểm tốt nghiệp để lănh bằng cấp RNSL. Mà lănh Chứng Chỉ, th́ tương lai có thể bị đi học khóa RNSL này lại cũng chưa biết chừng! Cho nên dù trong lúc học tập nguy hiểm, nặng nhọc, khóa sinh nào lỡ bị trặc gị, phồng chân, sưng cẳng vẫn phải chạy theo đồng đội, dù cho chạy lê lết ở phía sau cũng phải rán đến lớp học cho kịp giờ. Lúc nào xe cứu thương cũng chạy chầm chậm theo sau khóa sinh, để pḥng khi cứu cấp. Nhưng muốn được "nó" băng bó cứu thương không phải là chuyện dễ dàng… chỉ trừ trường hợp thậm cấp chí nguy. Mà gặp trường hợp này, th́ khóa sinh phải vào nằm Bệnh Xá, Bệnh Viện và… bị loại. Tương lai phải học lại khóa sau là điều khó tránh. Thế nên, có khóa không một ai bị loại, hoặc có một vài người kém may bị thương tích nặng, đành phải bỏ cuộc nửa chừng mà thôi. Phần lớn các lớp học RNSL, ít có trường hợp khóa sinh bị thương tích nặng nề. Họ đều chịu đựng sự học tập đó đến cuối khóa, cho dù mồ hôi, máu, nước mắt, và sự cay đắng gian khổ, nhiều khi cũng có pha trộn vào nhau.
Có nhiều khóa sinh đến ngày măn khóa, phải đi "cà nhắc" hoặc "treo một tay" trước ngực lên lănh bằng tốt nghiệp, là điều cũng thường xảy ra ở đây! Họ rất hănh diện và sung sướng cầm lấy mảnh bằng tốt nghiệp Lớp Hành Quân Biệt Động RNSL trên tay. Bởi v́ tuy họ bị kém may như vậy, nhưng ư chí đă thắng những nỗi đau của thân xác, và họ vẫn theo học đến cuối khóa mà không có khai bịnh một ngày nào.
Trên đây chúng tôi (tác giả tài liệu [6] ) nói sơ qua về vấn đề khóa sinh, và chỉ tŕnh bày từ năm 1970 về sau, là năm mà người viết bài này đă vào “Ḷ Luyện Thép” học Khóa BĐQ 241, c̣n từ năm 1961 tới năm 1969 th́ chúng tôi hoàn toàn không biết.
Tuy nhiên qua vài vị đàn anh những khóa trước và các vị từng có một thời gian phục vụ ở Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ tại Dục Mỹ, chúng tôi được biết thêm vài chi tiết cũng nên bổ xung vào đây.
Từ năm 1961 tới khoảng năm 1968, lúc đó ngân khoản dành cho Trung Tâm này c̣n dồi dào th́ những ưu tiên dành cho khóa sinh có khác biệt so với sau này. Trước kia, khi khóa sinh nhập khóa được phát một mũ nâu, một đôi giày “bốt đờ sô”, lúc măn khóa được phát hai bộ đồ rằn ri may đúng theo kích thước và các thứ cần thiết khác cho một Biệt Động Quân đúng nghĩa.

Các khóa sinh Biệt Động Quân năm 1967 - H́nh trích từ tài liệu [6]
Nhưng từ năm 1970 về sau, ngân khoản dành cho Trung Tâm này bị cắt giảm rất nhiều nên lúc chúng tôi vào học phải mang giày bố, ngày ra trường chỉ được một bộ đồ rằn ri, được phát thêm một mũ đi rừng BĐQ (có lưới che muỗi), một b́nh đựng nước loại 4 lít (bi đông con rùa, thổi phồng lên có thể dùng vượt sông), một bộ “đồ nghề” thông ṇng súng và một khoen sắt đeo ngực dùng móc vào dây lúc xuống trực thăng, một dây nịt rằn ri dài đúng 1m dùng cột quanh poncho lúc vượt sông. Tuy vậy chúng tôi vẫn c̣n may mắn hơn những khóa đàn em sau này.
Từ năm 1973 trở đi, khóa sinh không c̣n được phát miễn phí các loại như vậy nữa, ai muốn sắm them phải tự mua ở Câu Lạc Bộ Khóa Sinh.
7. Cuộc Sống Của Nhân Viên Và Cán Bộ Ở Trung Tâm Huấn Luyện Biêt Động Quân, KBC 4926
Nhân sự của trung tâm, chúng tôi tạm phân thành hai nhóm.
· Nhóm thứ nhất là những người được đào tạo chuyên nghiệp về BĐQ ở Việt Nam, được du học về BĐQ hay tốt nghiệp từ các trường quân sự nổi tiếng ở trong nước ;
· Nhóm thứ hai là những người đă phục vụ lâu năm trong binh chủng nhưng chưa tới hạn định giải ngũ, sức khỏe suy yếu nên được chuyển về đây (số này rất ít). Những người bị thương một lần, hay vài lần trong chiến đấu nhưng vẫn chưa đủ thang điểm giải ngũ (số này rất ít), những người có gia cảnh đặc biệt, chẳng hạn như cả gia đ́nh ở hậu phương bị chết bất ngờ v́ chiến sự (số này cũng rất ít).
Nói tóm lại, dù cả hai nhóm này có khác nhau về xuất thân, về kinh nghiệm chuyên môn hay kinh nghiệm chiến trường, nhưng cả hai nhóm đều giống nhau ở một điểm là cuộc sống rất eo hẹp.
Không phải ai muốn về làm việc ở TTHLBĐQ cũng được. Tất cả đều phải qua sự chọn lựa rất kỹ lưỡng và công bằng ở Bộ Chỉ Huy BĐQ tận Sàig̣n. Được chọn trong hàng ngàn người cùng binh chủng, cùng có những khó khăn như nhau th́ không dễ ǵ được chấm.
Lúc được về Trung Tâm này, nếu c̣n độc thân th́ ở khu dành cho nhân viên độc thân trong Trung Tâm, ai có đủ tiền có thể ra ngoài Dục Mỹ thuê pḥng. Ai có gia đ́nh, con cái th́ được cấp nhà ở Khu Gia Binh BĐQ ngoài thị trấn Dục Mỹ.
Nhưng đă về đây rồi th́ sẽ bị cắt tiền phụ cấp hành quân và những trợ cấp khác cho quân nhân tác chiến. Trong khi ngoài xă hội th́ vật giá từng ngày thêm đắt đỏ, lương bổng dù được tăng lên vẫn không đuổi theo kịp với giá cả mỗi ngày cao dần.
Có một số
khá đông gia đ́nh các nhân viên, cán bộ ban ngày làm việc
trong Trung Tâm hoặc là Huấn Luyện Viên ngoài băi tập,
nhưng ban đêm phải kín đáo đi xe đạp vào
Trung Tâm bán đủ thứ cho khóa sinh, từ thức
ăn mặn, hột vịt lộn tới bánh kẹo hoặc
thuốc lá loại “bó củi” (50 hay 100 điếu vấn
sẵn ở nhà), v.v. kể cả chấp nhận bán chịu
(cho kư sổ). Trường hợp tế nhị này Bộ
Chỉ Huy TTHL đă có lệnh cấm từ lâu, nhưng
trước cuộc sống khó khăn của nhân viên nên
thượng cấp đành nhắm mắt cho qua. Không phải
v́ khóa sinh chẳng được ăn no, mà tại ngán lên
tới óc hai món cá chiên, ḅ kho phải ăn ngày hai lần, và
c̣n phải ăn trong nhiều ngày sắp tới. Người
này giúp người nọ, đâu có ai bị phiền!
Có những gia đ́nh mà người vợ lính làm thợ
may hằng ngày (nhận sửa quân phục cho khóa sinh), hoặc
làm cô giáo dạy con em của quân nhân trong huấn khu (Dục
Mỹ có ba trường Tiểu Học, một trường
Trung Học Văn Hóa Quân Đội). Hoặc có những
người vợ lính nhọc nhằn hơn, là buôn bán cả
ngày ngoài chợ Dục Mỹ để kiếm thêm chút tiền
cho gia đ́nh. Cũng có rất nhiều thiếu niên, thiếu
nữ con của lính, sau khi rời trường về nhà
đă vội gánh trên vai những thúng, thùng chứa nước
đá, bếp dầu, cà phê hoặc xôi, chè, trái cây, thức
ăn mặn, v.v. và rời thị trấn hướng
đến các băi tập quân sự khắp Huấn Khu Dục
Mỹ. Nơi gần nhất là 2 cây số, nơi xa nhất
8 cay số. H́nh như chuyện này có “nội tuyến” trong
trung tâm. Các em biết trước đại đội
khóa mấy, học ở băi nào, học nửa ngày, cả
ngày, có ngủ đêm? Biết trước hết trơn!
May mà không phải vi–xi. Là con của lính thứ thiệt. Một
điểm son cần ghi nhận, dù cuộc sống của
nhân viên, cán bộ huấn luyện có nhiều khó khăn
nhưng tất cả vẫn cố gắng chu toàn trách nhiệm.
Vẫn tận tụy làm công việc quen thuộc mỗi
ngày, vẫn giữ đúng tư cách nghiêm minh của một
cán bộ huấn luyện ở “Ḷ Luyện Thép ‘’.
Do bởi đồng lương cố định trong khi đó vật giá leo thang , lại sống liêm khiết ,cuộc sống của nhân viên, cán bộ huấn luyện TTTHL Dục Mỹ và người thân trong gia đ́nh của họ rất chật vật, đây là t́nh trạng chung của các gia đ́nh binh sĩ và công chức thời đó.
Nhưng trên b́nh diện tổng quát của toàn khu Dục Mỹ, theo tài liệu [4] :
‘’Nhờ việc buôn bán với các Trung Tâm Huấn Luyện (THHL) quân sự (Dục Mỹ, Lam Sơn và Pháo Binh) cho nên kinh tế của Dục Mỹ nhờ đó khá lên so với các vùng xă trong quận.
Một h́nh ảnh đẹp, rộn ràng rất dễ t́m thấy vào những đêm cuối tuần, Trung Tâm Dục Mỹ sầm uất nhộn nhịp hẳn lên bởi từng cặp đôi trai gái địa phương đổ về cùng sự góp mặt của từng tốp lính của các THHL được nghỉ phép đi dạo chơi, ăn uống, mua sắm…v.v… Các quán sá, cửa hàng sáng rực lung linh với đủ loại ánh đèn. Bên cạnh đó, việc trao đổi, buôn bán với người Thượng về lâm sản góp phần mang lại nguồn lợi tức đáng kể cho người dân nơi đây.
Dân số Dục Mỹ từ đó cũng phát triển mạnh mặc dù đă có ba (3) trường tiểu học và một trường trung học Văn Hóa Quân Đội, nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu hiếu học của con em địa phương; Cho nên học sinh cấp trung học phải đi học xa nhà, xuống tận quận Ninh Ḥa có trường Trung Học Đức Linh, Bán Công và Trần B́nh Trọng, phương tiện đi lại có thể bằng xe đạp hoặc xe bus (school bus) lúc bấy giờ. Với tinh thần hiếu học vốn có, học sinh Dục Mỹ luôn luôn tạo được tiếng vang tốt cũng như giành được những giải thưởng cao về giáo dục của quận nhà .
Con gái Dục Mỹ v́ thu nhập chính là buôn bán không phải làm công việc đồng án, cho nên nổi tiếng vừa trắng lại vừa đẹp nhất nh́ trong quận , làm thẩn thơ hút hồn không biết bao nhiêu trái tim đang yêu của các chàng trai tưởng chỉ đến đây vài ba tháng thụ huấn quân sự rồi ra đi, chứ đâu có ngờ những mỹ nhân Dục Mỹ làm cho họ không đành long bước chân ra đi ‘’.
Hơn nửa theo tài liệu [5] : Với số lượng quân nhân trong ba trung tâm huấn luyện kèm theo gia đ́nh của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, thị trấn Dục Mỹ mọc lên giữa bốn bề núi non, tuy nhỏ bé nhưng vô cùng nhộn nhịp.
Cũng giống như những thị trấn mới toanh trong phim cowboy (cao bồi) miền Viễn Tây -Hoa Kỳ, Dục Mỹ là nơi quy tụ của quá nhiều người tứ xứ về đây mang theo các giọng nói vùng miền.
Người có máu làm ăn cũng vội vàng t́m về đất hứa.
Chợ Dục Mỹ cung cấp đủ để nấu được các món ăn đặc trưng kiểu Sàig̣n, Bắc, Huế…
“Vợ Lính” thong dong chẳng cần làm việc, chỉ lo cơm nước và nuôi con…
Những chuyến xe lam như con thoi nối liền Ninh Ḥa – Dục Mỹ.
Người dân Ninh Ḥa lúc bấy giờ hướng về thị trấn mới như một thị trường hấp dẫn, nơi họ có thể làm giàu nhờ nghề cung cấp thực phẩm.

Xe Lam : Ninh Ḥa-Dục Mỹ - H́nh trích từ tài liệu [5]
Nhà thờ và nhà chùa đă được xây. Các xe schoolbus được chế biến từ xe GMC của ba quân trường chở con quân nhân xuống Ninh Ḥa học ở các trường trung học. Những cô cậu học tṛ đă từng ngồi trên những chiếc GMC cải tiến này, nay đă trên dưới sáu mươi và tôi tin rằng dầu ở chân trời góc bể nào họ không bao giờ quên những chuyến xe chở học sinh kỳ lạ nhưng đầy ắp niềm vui một thưở.
Chủ nhật, con phố Dục Mỹ “Đi dăm phút trở về chốn cũ” có bóng dáng của những “ Thiếu Úy”, “ Trung Úy” trẻ trung, quân phục thẳng nếp, thong thả dạo gót rồi ghé vào một tiệm sách có cô bán hàng xinh xinh.
8.
Chương Tŕnh 12 Tuần Huấn Luyện Dành Cho Khóa Sinh
Biệt Động Quân (B 1 BĐQ)
Tuần thứ 1: Tập Cơ Bản Thao Diễn –
Đội H́nh Diễn Binh (ở sân cờ trung tâm) và tập
hát các bản nhạc hùng ca;
Tuần thứ 2: Học làm quen với các loại vũ khí cá nhân, tháo ráp và bảo tŕ (ở Trung Tâm). Học đánh cận chiến và vơ thuật;

Học vơ thuật - Hỉnh trích từ tài liệu [2]
Tuần thứ
3: Tập bắn
vũ khí cá nhân, ngủ lại xạ trường Núi
Đeo suốt một tuần.
Tuần thứ 4: Học làm quen với súng phóng lựu
M–79, đại liên M–60, đại liên 50, tháo ráp, bảo trí
(ở Trung Tâm);
Tuần thứ 5: Tập bắn các loại vũ khí vừa nêu trên. Thi tác xạ súng cá nhân (ngủ lại xạ trường suốt tuần);
Tuần thứ 6: Học làm quen các loại súng cộng đồng như Bazoka, súng cối 60 và 81ly, đại bác không giật 57 và 106 ly;
Tuần thứ
7: Tập bắn
các loại vũ khí nêu trên, ḅ hỏa lực, đổ bộ
trực thăng (ngủ lại xạ trường).
Tuần thứ 8: Học các đội h́nh di chuyển
lúc hành quân, cấp trung đội, đại đội
(ngoài băi). Học Chiến Tranh Chính Trị (ở trung tâm). Học
về “Chiến Tranh Hóa- Vi- Quang” (Hóa Học - Vi Trùng - Quang
Tuyến) học cách đeo các loại mặt nạ khác
nhau, từ khói cay (CS) đến phương cách tránh nhiễm
xạ hóa học;
Tuần thứ 9: Vượt Đoạn Đường Chiến Binh, học Tác Chiến Trong Thành Phố (ngày và đêm), đột kích và phục kích;
Tuần thứ 10: Học môn Mưu Sinh - Thoát Hiểm và Đào Tẩu, khám phá hầm bí mật, nhận dạng và vô hiệu hóa ḿn, bẫy. Học kỹ thuật gài ḿn, lựu đạn và gài bẫy, v.v. Môn này học trong một mật khu (thu nhỏ) của việt cộng, kế bên Sông Cay ở Núi Đeo (Đông Nam Dục Mỹ 4 cây số);
Tuần thứ 11: Học bài địa h́nh, lội śnh, đổ bộ, đột kích tấn công đảo bằng xuồng cao su ở Ḥn Khô, Ḥn Thi (Đông-Nam thị trấn Ninh Ḥa khoảng 4 cây số) ;
Tuần thứ 12: Học đi cầu ba dây, cầu heo hai dây, cầu rọ một dây (dây kinh dị), tuột núi, tuột càng trực thăng bằng dây và xuống dây tử thần. Hai ngày chót toàn đại đội thực hiện cuộc “Hành Quân Dă Chiến” quanh khu vực Núi Đeo, phải đến và chiếm được ít nhất năm mục tiêu giả định trong hai ngày hai đêm và đúng thời gian ước định.
Lễ măn khóa Biệt Động Quân được tổ chức rất trang trọng vào ban đêm tại sân cờ, cùng sự tham dự của Bộ Chỉ Huy Trung Tâm Huấn Luyện. Khóa đàn em vừa nhập khóa sẽ làm đội quân danh dự, tiễn khóa đàn anh ngày mai ra chiến trường. Trong bóng tối âm u, bỗng nhiên có 9 tiếng nổ lớn vang lên tại sân cờ (thuốc nổ simulator, không gây sát thương do Đại Đội Quân Cụ thiết trí), cùng lúc đó có 13 cây đuốc thật lớn cũng cháy bùng lên rực sáng khắp khu vực làm lễ. Sau khi cán bộ đại diện Khối Huấn Luyện bước đến trao ba Bằng Thiện Xạ cho ba khóa sinh có số điểm tác xạ cao nhất th́ toàn đại đội quỳ xuống trên một chân, các sĩ quan huấn luyện đại diện cho cán bộ Ḷ Luyện Thép bước đến đội chiếc Mũ Nâu cho từng người. Sau cùng là những lời thề đồng loạt vang lên ba lần: “Biệt Động Quân: V́ Dân Quyết Chiến!”
9. Chương Tŕnh Huấn Luyện dành cho Khóa Rừng Núi Śnh Lầy

Huy hiệu Rừng Núi Śnh Lầy – H́nh trích từ tài liệu [6]
Lúc ban đầu, từ năm 1961 khóa Hành Quân Biệt Động – Rừng Núi Śnh Lầy (gọi tắt Rừng Núi Śnh Lầy RNSL) chỉ dành cho một số sĩ quan và hạ sĩ quan của Lực Lượng Đặc Biệt, Người Nhái, Trinh Sát, Biệt Kích của các binh chủng, v.v. Tính tới giữa năm 1962, đă có 13 khóa Rừng Núi Śnh Lầy được đào tạo .
Chương tŕnh huấn luyện về RNSL, ngoài các bài học căn bản về Chiến thuật Tác Chiến Biệt Động, khóa sinh phải chịu đựng một sự thử thách khắc nghiệt về thể chất cũng như tinh thần, được học về những môn được coi là năng động nhất của Biệt Đông Quân, có thể tác chiến trên mọi địa h́nh như Rừng-Núi-Đồng Bằng và Lầy Lội.
Một khóa RNSL thu gọn trong 42 ngày, mỗi khóa có từ 100 đến 200 người. Lúc nhập khóa, sĩ quan (từ chuẩn úy tới trung tá) không đeo cấp bậc mà mang trên túi áo hoặc trên mũ một mảnh vải màu đỏ, hạ sĩ quan (từ trung sĩ tới thượng sĩ) mang màu vàng. Lá cờ của khóa học tương tự như cờ của các khóa BĐQ, cũng mang màu Nâu nhưng một bên may bốn chữ tắt là RNSL, mặt bên kia lá cờ là CC 2. Khóa sinh cũng được trang bị ba lô, súng đạn như một quân nhân tác chiến và đội mũ trai bằng văi.
Theo tài liệu [9] : Chương tŕnh huấn luyện 42 ngày đêm liên tục, trung b́nh 18 giờ/ ngày. Các môn học tương tự như ở TTHL/ BĐQ Đà-Nẵng trước đây, ngoài ra thêm môn đi dây Kinh Dị, Dây Tử Thần, Tuột Núi và lục soát xóm làng việt cộng.

Đi dây Kinh Dị - H́nh trích từ tài liệu [5]

Đu Dây Tử Thần sát bờ sông Cay - H́nh trích từ tài liệu [12]
![]()
Tháp đê tâp Tuột Núi -H́nh trích từ tài liệu [3]
![]()
Tuột Núi - H́nh trích từ tài liệu [3]
Riêng
khóa Rừng Núi Śnh Lầy có 10 ngày thực tập tại
căn cứ Núi Rừng (phía bắc Dục Mỹ khoảng
10 cây số), 10 ngày thực tập tại căn cứ Śnh
Lầy ở chân đèo Rọ Tượng (gần Quốc
lộ I, giữa quận lỵ Ninh Hoà và NhaTrang). Khóa huấn
luyện bổ túc Tiểu đoàn có thêm bài tập Bộ Chỉ
Huy (Tham Mưu) 24 giờ, và cuộc thực tập Tiểu
đoàn hành quân 72 giờ trong vùng đồng ruộng,
làng mạc, đồi núi phía Tây Bắc quận lỵ Ninh
Hoà.
Tất cả khoá sinh các khoá mỗi khi di chuyển bộ
đến lớp học hoặc băi tập luôn luôn trong
tư thế súng cầm tay, đeo ba lô nặng 15 kí lô.
Trong thời gian huấn luyện, khóa sinh RNSL phải hoạt động từ 4 giờ sáng đến 10 giờ tối, suốt 18 giờ một ngày, di chuyển đến đâu đều phải chạy, kể cả trước khi ăn cũng phải hít đất, nhảy xổm, đu xà ngang, v.v.
Khoá
sinh RNSL nào khai bệnh nghỉ một ngày, cuối khóa chỉ
đuợc cấp Chứng Chỉ thay v́ được cấp
Bằng Tốt Nghiệp.
Chương tŕnh huấn luyện sẽ thực tập ở
những nơi như căn cứ Rừng, dưới
chân núi Chư Giung, hướng Tây–Nam Dục Mỹ khoảng
8 cây số. Căn cứ Núi ở suối Trầu (cũng
thuộc dăy núi Chư Giung), hướng Tây–Bắc Dục Mỹ
chừng 10 cây số, Căn cứ Śnh ở đầm Nha
Phú dưới chân đèo Rọ Tượng, hướng
Đông–Nam Dục Mỹ khoảng 17 cây số (Đông–Nam thị
trấn Ninh Ḥa 4 cây số) .
Theo tài liệu [12] : Từ Trung Tâm Dục Mỹ, lấy xe chở ra ngă ba Ninh Ḥa rồi xuôi về hướng Nha Trang ; Đoàn xe qua khỏi đèo Rọ Tượng một quảng rồi tẻ về hướng biển, đó là căn cứ Śnh Lầy

Bản đồ Rừng Núi Śnh Lầy Đầm Nha Phú – H́nh trích từ tài liệu [12]
‘’Vùng này chỉ có bầu trời và nước mặn, chúng tôi phải kết hợp hai poncho để làm lều, dùng vơng che hai đầu. Khác biệt với căn cứ núi và rừng, ban ngày chúng tôi bị mặt trời giận dữ quan sát, ban đêm được các v́ sao soi sáng vỗ về, bước chân khuấy động mặt nước vẽ thành những đường sáng. Làn da chúng tôi bắt đầu sạm nắng, những vết xước do cây rừng gây cảm giác khi chạm vào nước mặn, nhưng sau đó được chữa lành nhanh chóng
Ban ngày học lư thuyết, ban đêm thực hành , người đẫm ướt, b́ bơm giữa vùng đất śnh. Về tới lều, cởi đôi giày, thay vội cái áo khô rồi trùm mền. Buổi tối cuối cùng, chúng tôi thu gọn hành trang trong yên lặng, Những chiếc xuồng bằng cao su dàn hàng ngang và đúng 9 giờ tối bắt đầu khởi hành. Tiếng mái chèo khuấy nước và tạo ra ánh sánh lấp lánh thật kỳ ảo. Ba giờ sáng chúng tôi đên Ḥn Khói, gần bở sóng vỗ mạnh, thật khó khăn chiếc trước, chiếc sau, chúng tôi cập vào đảo, vội vàng khiêng xuồng cao su vào trong và ngụy trang che kín.

Vượt sông bằng xuồng cao su - H́nh trích từ tài liệu [12]
Thảo được tháp tùng anh bạn đại đội trưởng thám sát mục tiêu. Trên nguyên tắc, phải cải dạng làm người dân, lúc một giờ trưa hai người dùng thuyền cao su nhỏ, định hướng chèo nhàn nhă. Ṛng ră hai giờ sau chúng tôi tới Ḥn Thị, Ngụy trang che dấu bè xong, chúng tôi từng bước tiến sâu vào đăo, rồi ḅ gần mục tiêu.quan sát bằng ống ḍm, vẽ sơ đồ và những hoạt động của các anh lính Biệt động quân giả địch. Sau khi lập sa bàn, anh bạn đại đội trưởng ban lệnh hành quân, phân định trách nhiệm cho từng trung đội. Giờ tấn công vào lúc 5 giờ sáng với hoả hiệu đỏ.
Dưới ánh sáng các v́ sao, chúng tôi cập vào Ḥn Thị, che dấu xuồng cẩn thận rồi tiến sát gần mục tiêu. Hỏa hiệu đỏ vụt lên bầu trời đêm, chúng tôi tấn công theo đúng kế hoạch đă ấn định trách nhiệm của từng toán. Sau khi chiếm xong mục tiêu, chúng tôi chèo xuồng về hướng Tây. Từ trong bờ, những trái khói màu vàng nổi bật trong hàng dừa xanh ven biển,
Chúng tôi vừa đếm số vừa đẩy tay chèo, nước biển hắt mạnh vào mặt, cay cay khoé mắt. mọi người vẫn tiếp tục cố gắng chèo thật nhanh như cuộc đua thuyền trong ngày hội lớn. Sóng biển dồn dập đẩy xuồng lướt thẳng trên băi cát trắng của làng Ngọc Diêm. Anh em chúng tôi kéo xuồng vào sâu trong bờ rồi cùng giơ mạnh hai tay làm thành h́nh chử V, tay nắm tay nhau san sẻ nỗi mừng vui đă vượt qua 6 tuần ṛng ră của khóa học đầy cam go, vất vă. Trở về trung tâm huấn luyện, anh em có được một buổi chiều thật thoải mái, vào câu lạc bộ tẩm bổ để ngày mai vượt qua chặng đường cuối cùng của khóa học.
Chúng tôi
được chở đến Ninh Ḥa lúc tờ mờ
sáng, gọn gàng với áo thun, quần trận, súng Garand, và
bắt đầu khởi hành chạy bộ về Trung tâm
huấn luyện vào lúc 8 giờ sáng ‘’.
Qua 63 khóa huấn
luyện RNSL, chỉ một lần duy nhất là vào tháng 11
năm 1964, Khóa 19 của Trường Vơ Bị Đà Lạt
về Dục Mỹ học Khóa 17 RNSL đă xảy ra một
tai nạn trong huấn luyện. Trong bài tập về địa
h́nh và đột kích đêm ở gần Ḥn Khô (Đông–Nam
Ninh Ḥa 4 cây số), một phần khóa sinh (mang vần chữ
T) của khóa học đă đi lạc vào một băi ḿn bỏ
hoang, ḿn phát nổ làm 6 người tử thương và 15
người bị thương. Huấn luyện viên hướng
dẫn địa h́nh của bài tập hôm đó là Trung úy
Lê Phú Đào (Khóa 15 Vơ Bị Quốc Gia).
Phác Họa Một Vài Bài Học Điển H́nh Nguy Hiểm,theo tài liệu [3] :
Kể đến những bài huấn luyện có tính cách nguy hiểm, th́ hầu như các Quân Trường, các Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự trên toàn quốc, bất kể của Quân Binh Chủng, hoặc của các đơn vị Bán Quân Sự nào cũng đều có cả. Nhưng có điều là tại lớp học RNSL này, với sự huấn luyện chú trọng đặc biệt về rèn luyện tinh thần, thể chất, cũng như làm quen với mọi địa thế rừng, núi, śnh lầy… th́ sự nguy hiểm có phần gia tăng đáng kể nhiều hơn. Chẳng hạn như bài học "Vượt Sông Bằng Giây", hoặc "Bằng Bè Làm Bằng Poncho", hay là "Xâm Nhập Thủy Bộ" "Đột Kích Lúc Rạng Đông" bằng cách bơi thuyền cao su từ ngoài biển khơi vào "Thám Sát rồi Đột Kích" mục tiêu trên đất liền lúc rạng đông… quả thật là có nhiều nguy hiểm chực chờ, và cũng đ̣i hỏi nhiều sức chịu đựng dẽo dai.
Trong bài học "Xâm Nhập Bằng Thủy Bộ và Đột Kích Lúc Rạng Đông", với một tổ 3 người đầy đủ trang bị chiến đấu, ngồi trên chiếc Thuyền Thám Sát bằng cao su nhỏ nhắn, được thổi phồng lên do hơi từ cửa miệng của họ, từ chập tối ở ngoài khơi, phải bơi lặng lẽ vào bờ cho kịp thời gian thám sát mục tiêu, để kịp báo cáo về Bộ Chỉ Huy Hành Quân trước lúc nửa đêm.
Rồi ngay tức thời, căn cứ vào báo cáo đó, đoàn quân đột kích dùng loại thuyền cao su lớn hơn, cũng từ ngoài khơi bơi nhanh vào bờ thi hành nhiệm vụ của họ, là Đột Kích Lúc Rạng Đông mục tiêu nói trên. Trời tối đen, chỉ lấp lánh mấy v́ sao lạc. Mặt biển mênh mông, từng làn sóng nhấp nhô như bồng con thuyền đưa lên cao, rồi hạ xuống thấp. Từng luồng gió lạnh thổi qua, khiến cho 3 kẻ thi hành lệnh Thám Sát kia vừa thích thú trong nỗi nhọc mệt, và cũng pha đôi chút hăi hùng. Mỗi lần bơi chèo đưa lên khỏi mặt nước, là mỗi lần có sự phản chiếu ánh sáng từ các v́ sao cao tít trên nền trời, tạo thành một màu sáng bạc, lung linh mờ ảo lấp lánh hai bên mạn thuyền. Thi vị thật, mà cũng lo sợ thật! V́ trời nước th́ mênh mông, con thuyền th́ mỏng manh nhỏ bé, chỉ cần một người ngồi trên đó trở ḿnh không đúng kỹ thuật, là thuyền bị lật úp cũng dễ dàng như chơi. Hoặc thuyền va chạm vào đá ngầm làm rách lớp cao su khiến x́ hơi xẹp lép. Hay là bỗng đâu có một lượng sóng ba đào từ phía ngoài khơi mù mịt, ùn ùn đánh ập vào bờ, khiến thuyền lật ngang, người văng xuống biển th́… tiêu đời.
Thật là biết bao cái nguy hiểm chực chờ! Dầu cho thuyền cấp cứu của Huấn Luyện Viên có lảng vảng gần đó đi chăng nữa, nhưng có ai học được chữ ngờ! Kể cả đoàn thuyền cao su Zodiac, mỗi chiếc chở hàng Tiểu Đội, đang trên đường vào bờ Đột kích kia, cũng không phải là không có nguy hiểm xảy ra.
C̣n nói về bài học "Vượt Bè Bằng Poncho" cũng không kém phần nguy hiểm chết người. Khóa sinh phải thực tập trên một khúc sông nước mênh mông, rộng khoảng 500 mét có chỗ cạn chỗ sâu.
Những chiếc Áo Mưa Poncho được gói lại làm bè, súng đạn quần áo được sắp xếp bên trong theo kỹ thuật, nếu làm bè theo kiểu Mỹ th́ hai người chung một chiếc, hai người này ít nhất phải có một người biết lội th́ sự an toàn khi qua sông sẽ được bảo đảm nhiều hơn.
C̣n nếu làm bè theo kiểu Úc Đại Lợi, th́ mỗi người tự dùng trang bị cá nhân của ḿnh bỏ trong Poncho gói lại theo đúng sự hướng dẫn, súng đạn gác trên bè, và cứ thế mà nương theo bè để vượt sông. Gặp chỗ cạn th́ vừa đi vừa kéo bè theo sau, chỗ nước sâu th́ vin vào bè mà lội. Ai không biết lội th́ nằm úp lên bè, coi như đó là cái phao để tập lội vào bờ. Nếu làm theo đúng bài học th́ không bị lật bè nguy hiểm, chỉ đáng lo cho những ai làm bè không kỹ, mối giây cột không chặt, không theo đúng kỹ thuật hướng dẫn, cho nên khi lội ra chỗ sâu gặp nước chảy mạnh, bè sút mối giây ră ra, đành kêu cứu inh ỏi và uống nước vào bụng cũng không ít (có khi là nước mặn). Quần áo, súng đạn bị ướt sũng thật dở khóc dở cười. Nếu làm bè kiểu Úc mà gặp trường hợp này, lại không biết lội nữa, th́ cái chết cũng trong đường tơ kẻ tóc. Nếu làm bè kiểu Mỹ th́ hai người giúp đỡ kiểm soát lẫn nhau, nhưng súng đạn phải gói bên trong, không thể phản ứng cấp thời khi có địch tấn công lúc đang qua sông. C̣n nếu làm bè theo kiểu Úc th́ mỗi người tự làm bè cho ḿnh, và vừa lội sông vừa có thể nổ súng nếu gặp địch quân xuất hiện, v́ súng đạn gác lên trên bè chứ không gói kín vào bên trong.
Thôi th́ có đến trăm thứ nguy hiểm cho một lớp học Căn Bản BĐQ hay RNSL mà người khóa sinh phải trải qua, ngần thứ ấy cũng rèn luyện được sự can trường cho người chiến sĩ không ít.
Theo tài liệu [2] : V́ nhu cầu huấn luyện đặc biệt của Trung Tâm, nên Pḥng Quân Huấn lại có nhiều Khoa, nhiều Ban để mở ra thêm nhiều khóa huấn luyện đặc biệt như sau :
10 . Khóa Căn Bản Biệt Động Quân
Chuyên huấn luyện về các lớp Căn Bản Biệt Động Quân. Khóa sinh theo học cũng giống như lớp Rừng Núi Śnh Lầy, nhưng ở đây c̣n có thêm các tân binh t́nh nguyện của Biệt Động Quân và các Cán Bộ Cảnh Sát Quốc Gia được Bộ Nội Vụ gởi tới nhờ huấn luyện. Thời gian học là 35 ngày đêm gian khổ không kém ǵ khóa RNSL.
Chính khóa sinh của hai lớp này đă đặt cho TTHL/BĐQ/DM cái biệt danh là “L̉ LUYỆN THÉP”, và c̣n đặt cho cái tên khá rùng rợn nữa là Trung Tâm Tàn Phá Sắc Đẹp.
Chương Tŕnh Huấn Luyên của hai lớp Căn Bản Biệt Động Quân và Hành Quân Biệt Động Rừng Núi Śnh Lầy không có ǵ dị biệt nhau nhiều. Chỉ có khác là thời gian huấn luyện lớp Śnh Lầy dài hơn lớp Căn Bản. Do đó mà lớp Śnh Lầy có thêm các buổi tập như: mang đầy đủ trang bị vũ khí đạn dược và quân dụng cá nhân như những người lính hành quân thật sự, đi bộ một đoạn đường dài trên hàng chục cây số có ấn định vận tốc và thời gian. Lại có thêm bài chạy bộ 14 cây số từ Trung Tâm đến Quận Lỵ .

Kḥa sinh-Hỉnh trích từ tài liệu [2]
11. Khóa Đơn Vị
Chuyên huấn luyện các lớp Đơn Vị cấp Tiểu Đoàn Biệt Động Quân từ 4 Vùng Chiến Thuật gởi về, thực hành đúng theo câu “Văn Ôn Vơ Luyện”. Khóa này ngoài cửa miệng mọi người c̣n gọi là: Khóa chuyên “HẤP LẠI” các Tiểu Đoàn BĐQ sau một thời gian tung hoành ngoài mặt trận. Cũng có các Tiểu Đoàn c̣n nguyên vẹn được đưa về đây học tập theo lối dưỡng quân nghỉ khỏe, và cũng có nhiều Tiểu Đoàn bị “te tua” sau nhiều trận chiến dưới áp lực mạnh mẽ của cộng quân, nên được đưa về đây bổ sung quân số, trang cụ, cũng như nâng cao tinh thần “quyết chiến” của đơn vị.
12. Chương Tŕnh Huấn Luyện dành cho Khóa Viễn Thám
Khóa Viễn Thám đựợc dành cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các ngành như Trinh Sát, Thám Sát, Thám Báo, Biệt Kích, Thám Kích, Viễn Thám, v.v. của các quân binh chủng QLVNCH.
Một khóa Viễn Thám được thu gọn trong 32 ngày, mỗi khóa có từ 50 đến 100 khóa sinh. Lúc nhập khóa sĩ quan mang vải đỏ, hạ sĩ quan vải vàng và binh sĩ mang vải xanh. Cờ hiệu của khóa cũng cùng kích thước như BĐQ và RNSL, mang màu nâu với một bên là chữ VT và một bên là CC 1. Khóa sinh cũng được trang bị ba–lô súng đạn, mũ vải và khi di chuyển cũng phải chạy thường xuyên như khóa Rừng Núi Śnh Lầy.

Huy hiệu
Viễn Thám -H́nh trích từ tài liệu [6]
Chương tŕnh huấn luyện của Viễn Thám phần lớn chú trọng về từng toán tách biệt từ 3 đến 5 người. Đơn độc hoạt động trong rừng sâu núi thẳm ḍ t́m dấu vết địch, hoặc để theo dơi một đơn vị của đối phương, vẽ sơ đồ, đánh dấu vị trí địch và cũng có thể tổ chức bắt cóc đem về khai thác tin tức. Khóa Viễn Thám cũng được học về phương pháp ngụy trang cho cá nhân, ngụy trang vị trí ẩn nấp, ngụy trang địa h́nh giả để đánh lừa, xóa dấu vết khi di chuyển, v.v. Với một chương tŕnh huấn luyện như vậy nên các khóa Viễn Thám phải học về kỹ thuật xuống dây trực thăng ở mục tiêu, móc vào dây trực thăng khi rời mục tiêu, hoặc được trực thăng thả xuống một nơi thật xa rồi tự t́m đường về. Các nơi được dành cho việc huấn luyện Viễn Thám là căn cứ Rừng, căn cứ Núi, căn cứ Đá Đen (Đông–Nam Núi Đeo), căn cứ Cọp Đen (Tây-Bắc Núi Đeo), v.v,
Hơn nửa , theo tài liệu [2] : Chuyên huấn luyện về Hành Quân Tuần Thám Vùng Xa, đi sâu vào ḷng địch trong tận các Mật Khu giữa vùng rừng núi xa xôi, mà người ta thường gọi nôm na là “Thả Toán hay Nhảy Toán”. Tức là huấn luyện chuyên biệt từng toán năm, bảy người với trang bị đặt biệt. Họ được Trực Thăng bốc đi vào lúc thời điểm thuận tiện nhất, bảo mật nhất để thả xuống một địa điểm A chẳng hạn. Rồi từ điểm A này, họ phải ṃ mẫm tới địa điểm B là nơi nghi ngờ có căn cứ của địch quân, t́m cách bám sát để vẽ lược đồ, sơ đồ, hoặc gọi máy truyền tin về Bộ Chỉ Huy báo cáo từng chi tiết. Sau đó phải lập tức rút lui êm thắm đến địa điểm C là nơi hẹn, để được Trực Thăng bốc về. Nếu chẳng may bị lộ, hoặc bị lạc điểm hẹn, th́ coi như khó trở về đơn vị của ḿnh.
Khóa này cũng huấn luyện cho Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan của Binh Chủng BĐQ, và cho cả các đơn vị bạn.
Ngoài những khóa huấn luyện liên tục từ năm này đến năm khác như các Khóa nêu trên, Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ/Dục Mỹ c̣n theo lệnh của Tổng Cục Quân Huấn huấn luyện phối hợp giữa các lớp Căn Bản BĐQ và lớp Rừng Núi Śnh Lầy cho các Sinh Viên Sĩ Quan Đà Lạt, Thủ Đức, Đồng Đế, cũng như huấn luyện cho một số Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan Đại Hàn.
Yểm trợ cho các khóa học này, ngoài các Huấn Luyện Viên chuyên môn của từng lớp học, c̣n có các Khoa Tổng Quát, Khoa Vũ Tác Ḿnh, Khoa Thể Dục Quân Sự, Khoa Chiến Thuật, cùng Liên Đoàn Khóa Sinh, Ban Chương Tŕnh, Ban Trợ Huấn Cụ, các Căn Cứ Rừng Núi Śnh Lầy, Khu Tuột Núi, Giây Tử Thần, Giây Kinh Dị, Khu Mưu Sinh, Khu Xóm Nhà Việt Cộng với nhà hai mái, hai vách để khóa sinh thực tập và hai Đại Đội Diễn Tập 301 và 302 BĐQ…
13. Vấn Đề Tiếp Vận trong Binh Chủng Biệt Động Quân
Theo tài liệu [6] :
Từ ngày
thành lập năm 1960 đến 1970, vấn đề tiếp
vận cho riêng Binh chủng BĐQ là một vấn đề
gây nhức đầu không những cho Bộ Tổng Tham
Mưu, mà cả Bộ Tư Lệnh MACV. Ngay từ lúc thành
lập, từ trung đội rồi đại đội,
lên cấp chiến đoàn, liên đoàn th́ binh chủng này
không được tổ chức một cơ cấu
điều hành việc tiếp vận cho nội bộ. Với
quan niệm rằng những đơn vị BĐQ ở
Quân Khu nào th́ do chính quân khu đó đảm trách việc tiếp
vận cho lực lượng BĐQ. Nhưng khi bên Quân
Đoàn điều động đi tăng phái cho các
đơn vị bạn th́ vấn đề tiếp vận
mới lộ ra những khiếm khuyết của nó. Khi
đi tăng phái th́ phần lớn các đơn vị nhận
tăng phái luôn dành ưu tiên cho các đơn vị cơ hữu
của ḿnh. Những nhân viên tiếp liệu của BĐQ
thường phải chạy đôn đáo các nơi v́ thủ
tục hành chánh rườm rà, nguyên tắc cứng ngắc
của hàng dọc, hàng ngang, v.v. th́ đơn vị BĐQ
nơi tuyến đầu mới có những đáp ứng
theo yêu cầu, và thường không được đầy
đủ hoặc chậm trễ.
Một ví dụ điển h́nh : Trong cuộc Hành Quân Lam
Sơn 719, Liên Đoàn 1 BĐQ được chỉ định
tăng phái làm tiên phong cho Sư Đoàn Nhảy Dù, nhưng
sau lúc Tiểu Đoàn 39 đổ quân xuống thiết lập
Ranger North, Tiểu Đoàn 21 xuống lập Ranger South, th́
lúc ấy ở Khe Sanh mới sực nhớ ra: Đơn vị
nào chịu trách nhiệm về tiếp tế cho BĐQ ở
bên Lào? Ngày 10/2/1971, ngày thứ ba của cuộc hành quân, Bộ
Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I ở Khe
Sanh (Căn Cứ Hàm Nghi) phải cử hai vị Đại
tá đến Căn Cứ Phú Lộc, nơi đặt Bộ
Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn 1 (bên này biên giới 1
cây số) gặp vị Liên Đoàn Trưởng, Đại
tá Nguyễn Văn Hiệp để cùng bàn việc tiếp
tế cho hai tiếu đoàn BĐQ trên đất Lào. Thay v́
trực thăng đáp xuống Căn Cứ Phú Lộc th́
phi công bay lạc qua bên kia biên giới, bay thật thấp
ngang qua Tiểu Đoàn 21 BĐQ. Chỉ v́ một sơ suất
về tiếp tế cho BĐQ, chiếc trực thăng
đó bị cộng sản bắn rơi làm thiệt mạng
hai sĩ quan cao cấp của quân đoàn, phi hành đoàn 4
người Mỹ, một sĩ quan tiếp liệu của
LĐ 1 BĐQ, một phóng viên quân đội người
Việt và 4 phóng viên ngoại quốc. Đó là chuyện hành
quân. C̣n ở hậu phương, phần lớn những
doanh trại hậu cứ cấp tiểu đoàn, liên
đoàn th́ quá cũ, có nơi được xây cất từ
thời Pháp. Riêng các khu gia binh trực thuộc th́ c̣n xơ
xác hơn, thiếu nhà ở, thiếu trường học,
thiếu bệnh xá, v.v. dành cho gia đ́nh binh sĩ. Cũng
may mắn là điều này đă được các cố
vấn Mỹ trong đơn vị thấy được
và cảm thông cho những thiếu thốn đó.
Thêm một ví dụ điển h́nh : Trong tháng 10 năm 1969, một phái đoàn thanh tra từ Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân, Bộ Chỉ Huy Cố Vấn BĐQ ở MACV đến thăm Trại Phan Hanh, hậu cứ của Liên Đoàn 3 BĐQ ở Long B́nh, Thiếu tá Nguyễn Văn Biết, Chỉ Huy Hành Chánh Công Vụ của LĐ 3 và các cố vấn phúc tŕnh cho phái đoàn thanh tra: “Toàn liên đoàn có 82 chiếc xe lớn nhỏ, nhưng mỗi ba tháng chỉ được cấp 80 lít xăng, 15 lít dầu cặn. Binh sĩ thiếu áo giáp, thiều giày, thiếu quần áo, v.v. mà lẽ ra phải được cung cấp theo bảng phân phối từ Tổng Cục Tiếp Vận. Binh sĩ phải mua ngoài chợ đen, nên đă nghèo càng chịu nghèo thêm”. Nhà cửa doanh trại hư nát, khu gia binh xác xơ, đến mức các vị cố vấn trong liên đoàn thấy thảm quá nên cố gắng tiếp xúc với một đơn vị Mỹ đóng gần đó là Lữ Đoàn 20 Công Binh Kiến Tạo. Các cố vấn yêu cầu được giúp đỡ th́ bộ chỉ huy của đơn vị này chấp nhận bằng cách: Lúc đơn vị họ ra ngoài hành quân, xe cơ giới c̣n để lại cũng như gỗ, sắt, v.v. cứ lấy sử dụng đến khi đơn vị trở về. Vậy là các cố vấn cùng quân nhân ở hậu cứ hối hả phơi nắng làm việc “tu bổ” doanh trại, tuy nhiên cũng có các thứ phải bỏ tiền túi ra mua ở bên ngoài. Nhờ ḷng hảo tâm này, Trại Phan Hanh của LĐ 3 BĐQ mới làm thêm hoặc sửa sang được tất cả 90 căn nhà cho 148 gia đ́nh của TĐ 31 BĐQ, 90 căn nhà cho 219 gia đ́nh của TĐ 52 BĐQ, c̣n TĐ 36 BĐQ th́ ở riêng trong khu Hoàng Hoa Thám, và 103 căn nhà của 145 gia đ́nh thuộc tiểu đoàn này cũng cần sự giúp đỡ. Lúc vị Trưởng Đoàn Thanh Tra, Đại tá Lê Quang Hiển đến quan sát hai trường tiểu học dành cho các cháu Hướng Đạo, nam và nữ thuộc liên đoàn, ông thẳng thắn nhận xét: “Cả hai trường này chỉ đạt 25% theo yêu cầu của ngành giáo dục. Trong tương lai, con em của quân nhân rồi sẽ vào quân đội nếu không có thêm trường được xây cất”... (Rangers at War-LRRPs in Vietnam, by Shelby L. Stanton).
Tính đến tháng 8 năm 1964, số cố vấn Mỹ đang phục vụ trong Binh chủng BĐQ là 35 sĩ quan, 19 hạ sĩ quan .
Tới đầu năm 1965,số cố vấn là 42 sĩ quan,36 hạ sĩ quan.
Đầu năm 1966, có 54 sĩ quan và 64 hạ sĩ quan.
Giữa năm 1967, số cố vấn là 55 sĩ quan ,79 hạ sĩ quan.
Năm 1968, 65 sĩ quan ,91 hạ sĩ quan.
Năm 1969, 60 sĩ quan ,85 hạ sĩ quan.
Năm 1970, 43 sĩ quan ,70 hạ sĩ quan.
Năm 1971, 30 sĩ quan ,48 hạ sĩ quan.
Năm 1972, 20 sĩ quan ,33 hạ sĩ quan (không có cố vấn cấp tiểu đoàn).
Tứ năm 1965 đến năm 1971 :
Mỗi bộ chỉ huy Liên Đoàn BĐQ, có 6 cố vấn ,3 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan.
Mỗi Tiểu Đoàn BĐQ, có 5 cố vấn ,2 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan.
Từ năm 1960 đến 1973, có gần 1,000 sĩ quan và hạ sĩ quan của quân đội Mỹ làm cố vấn trong Binh chủng Biệt Động Quân. Có tất cả 55 vị tử trận, gần 200 người bị thương . (Xin đọc thêm nơi bài “Một Nén Hương Cho Những Người Nằm Xuống” của BĐQ Đỗ Như Quyên).
Trong bản tổng kết thành tích của Bộ Chỉ Huy Trung Ương, Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa : Từ ngày 01 tháng 7 năm 1960 đến ngày 28 tháng 01 năm 1973, riêng Binh chủng Biệt Động Quân đă hạ sát được khoảng 40,000 quân cộng sản, bắt 7,000 tù binh, đón nhận 255 người ra hồi chánh, tịch thu 10,941 súng cá nhân và 1,167 súng cộng đồng. Con số này không tính đến các chiến tích đă lập được cho những đơn vị mà BĐQ đă tăng phái (The Black Tigers, by Michael Martin. The Vietnamese Ranger: An Overview, by MacDonald Valentine).

Các binh sĩ Biệt Động Quân đang tác chiến trong trăn Đồng Xoài năm 1965 – H́nh trích từ tài liệu [10]
Dưới đây là danh sách các Đại Đội Biệt
Động Quân vào những năm đầu, từ 1960 tới
1962. Có một số đại đội được
tổ chức thành những tiểu đoàn và t́m ra
được các đại đội nào. Tuy nhiên cũng
c̣n rất nhiều đại đội khác ở các tỉnh
nhưng không biết về tiểu đoàn nào. Nay xin ghi lại
với hy vọng có người nhớ lại những
đại đội đó thuộc tiểu đoàn nào:
Tỉnh Thừa Thiên: Đại Đội 101, 102, 103, 104,
105 được đưa về Đà Nẵng thành lập
Tiểu Đoàn 11 BĐQ.
Tiểu Đoàn 21 với các Đại Đội : 203,206,303,304,305.
Tiểu Đoàn 22 với các Đại Đội : 201,202,204,207,208,209.
Tiểu Đoàn 30 với các Đại Đội : 307,308,309,310.
Tiểu Đoàn 33 với các Đại Đội : 318,319,322,339,367.
Tiểu Đoàn 37 với các Đại Đội : 313,324,327,342.
Đại Đội 350 giải tán để lập Bộ Chỉ Huy cho 3 Tiểu Đoàn 21,37,39 BĐQ.
Tiểu Đoàn 42 với các Đại Đội : 315,363,327,365, 369.
Tiểu Đoàn 52 với các Đại Đội : 347,348,351,352.
Tỉnh B́nh Định : Đại Đội : 205,211.
Tỉnh Khánh Ḥa : Đại Đội : 2301,302 (sáp nhập vào TTHLBĐQ ổ Dục Mỹ).03,206
Tỉnh B́nh Tuy : Đại Đội : 311,317,333,341.
Tỉnh Phước Thành : Đại Đội : 314,321,324,330,335,336,338,343,350.
Tỉnh Long Khánh : Đại Đội : 323.
Tỉnh Phước Long : Đại Đội : 312,313,320,329,342.
Tỉnh Tuyên Đức : Đại Đội : 210.
Tỉnh Long An : Đại Đội : 356,357.
Tỉnh Phong Dinh : Đại Đội : 368.
Tỉnh Kiến Tường : Đại Đội : 351,355.
Tỉnh Kiến Phong : Đại Đội : 347,348.
Tỉnh Kiến Ḥa : Đại Đội : 353,354.
Tỉnh Định Tường : Đại Đội : 334.
Tỉnh Chương Thiện : Đại Đội : 361.
Tỉnh An Giang : Đại Đội : 360,366.
Tỉnh An Xuyên : Đại Đội : 315,365,370,362,363,364,369.
Khu vực Sài g̣n : Đại Đội : 306,307,308,309,310.
Như vậy, trong tổng số 20 tiểu đoàn ban đầu của BĐQ, đă t́m được 8 tiểu đoàn với gốc cũ từ những đại đội biệt lập nào. C̣n lại 12 tiểu đoàn, ước mong có vị đàn anh nào nhớ lại, xin lên tiếng giúp cho. Vô cùng đa tạ.
14. Kết Luận:
Trích từ tài liệu [6] :
“Đèo cao th́ mặc đèo cao
Tinh thần Biệt Động vẫn cao hơn đèo”
Tính đến năm 1965, TTHLBĐQ ở Dục Mỹ đă hoàn tất việc thành lập các tiểu đoàn BĐQ, có tất cả 20 tiểu đoàn được thành lập là: TĐ11 BĐQ, 21, 22, 23, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 41, 42, 43, 44, 51, 52. Riêng Tiểu Đoàn 41, vào năm 1972 đă đổi số hiệu đơn vị thành Tiểu Đoàn 58, BĐQ.
Ngoài ra, từ năm 1970, với sự sáp nhập các trại Dân Sự Chiến Đấu từ Lực Lượng Đặc Biệt, Binh chủng BĐQ lại có thêm 37 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Pḥng ở khắp bốn quân khu. (Xem thêm chi tiết về các đơn vị Dân Sự Chiến Đấu trong Phụ đề ).
Những tiểu đoàn đó là: TĐ61 BĐQ, 62, 63, 64, 65 (giải tán cuối năm 1973), 66 (60), 67, 68, 69, 70, 71 (giải tán cuối năm 1973), 72, 73 (giải tán cuối năm 1973), 74 (giải tán cuối năm 1973), 75 (giải tán cuối năm 1973), 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91 (giải tán cuối năm 1973), 92, 93, 94, 95, 96, 97. Hơn một nửa của số Tiểu đoàn BĐQ Biên Pḥng nêu trên đă được gởi về TTHLBĐQ ở Dục Mỹ để tái huấn luyện.
Đến cuối năm 1974, Binh chủng BĐQ đă thành lập thêm hai Liên Đoàn mới. Liên Đoàn 8 BĐQ với ba Tiểu Đoàn: TĐ84 BĐQ, 86, 87 và Liên Đoàn 9 BĐQ với ba Tiểu Đoàn: TĐ93 BĐQ, 97, 99. Cả hai liên đoàn này đều về TTHLBĐQ ở Dục Mỹ để tái huấn luyện trước khi ra chiến trường.
Theo tổ chức của binh chủng, mỗi Liên Đoàn BĐQ có :
· Một Đại Đội Công Vụ với 213 người,
· Đại Đội Thám Kích Biệt Động có 111 người,
· Đại Đội Vận Tải 114 người, Đại Đội Công Binh 122 người,
· Trung Đội Pháo Binh với 4 súng 105 ly và 30 người,
· Trung Đội Truyền Tin 20 người,
· Trung Đội Quân Y 20 người.
Trên lư thuyết th́ mỗi tiểu đoàn có 745 người, một Liên Đoàn có hơn 2,800 người nhưng trong thực tế th́ quân số hành quân chỉ có từ 1,700 đến 2,200 quân nhân. V́ hành quân liên miên, hiếm khi được nghỉ ngơi nên quân số nhiểu Liên Đoàn thường xuyen thiếu hụt.
Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân QLVNCH là nơi huấn luyện, cấp phát một Bằng và hai Chứng Chỉ tốt nghiệp về Chiến Thuật Tác Chiến Biệt Động, không chỉ trong quân lực mà c̣n dành cho quân đội Đống Minh (giá trị vĩnh viễn).
Bằng
Căn Bản Biệt Động Quân (B 1, BĐQ) được
cấp cho quân nhân các cấp trong binh chủng, phụ cấp
mỗi tháng 800 đồng (1960–1965: $300, 1966–1970: $600).
Chứng Chỉ 1 (CC 1, BĐQ), được cấp cho
binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan trong quân lực đă
tốt nghiệp sau 32 ngày huấn luyện về Viễn
Thám, phụ cấp mỗi tháng $700 (1961–1965: $300,
1966-1970 : $500).
Chứng Chỉ 2 (CC 2, BĐQ), được cấp cho hạ sĩ quan, sĩ quan trong quân lực đă thụ huấn và tốt nghiệp sau 42 ngày học khóa Hành Quân Biệt Động – Rừng Núi Śnh Lầy, phụ cấp mỗi tháng $800 (1961-1965 : $300, 1966-1970 : $ 600).
(Từ năm 1972 và về sau, các sĩ quan cấp thiếu tá, trung tá, đại tá trong quân lực thuộc những ngành chuyên môn (không tác chiến), buộc phải về Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ để học trong 3 tuần khóa B 2 (Bằng 2 BĐQ dành cho sĩ quan trung cấp và cao cấp. Đây là Huấn Thị của Tổng Cục Quân Huấn ban hành trong tháng 1/1972. Bằng B 1 BĐQ tức là Bằng Căn Bản như đă nói ở trên).
Từ năm 1961 đến năm 1975, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân QLVNCH đă đào tạo được 504 khóa BĐQ, mỗi khóa có hơn 200 quân nhân.
Đào tạo được 87 khóa Viễn Thám, trong đó có 2 khóa cho quân đội Nam Hàn, 1 khóa cho quân đội Thái Lan.
Đào tạo 64 khóa Rừng Núi Śnh Lầy, kể cả 1 khóa cho quân đội Nam Hàn, 1 cho Thái Lan và 1 khóa cho Phí Luật Tân.
Huấn luyện và cấp bằng tốt nghiệp Thiện Xạ qua 28 khóa bắn tỉa dành cho các Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Pḥng, mỗi khóa có 10 quân nhân, học trong 4 tuần (chương tŕnh này bắt đầu năm 1970, bỏ hẳn vào năm 1974).
Huấn luyện
Bổ Túc được tất cả 27 tiểu đoàn
BĐQ từ các Quân Khu gởi về thụ huấn.
Từ cuối năm 1974 đến đầu năm 1975,
đă huấn luyện được 6 Đại Đội
Thám Kích Biệt Động, thuộc các Liên Đoàn 8,9,11,12,
(LĐ 1),14,15.
Về tổ chức của Đại Đội Thám Kích Biệt Động: Đại Đội Trưởng cấp đại úy, Trung Đội Trưởng cấp thiếu úy. Quân số 111 người. Bộ Chỉ Huy và Tổng Đài Hành Quân (Truyền Tin), 11 người. Hai Trung Đội Viễn Thám (1+2), hai Trung Đội Thám Kích (1+2), mỗi trung đội 25 người (bản thân người viết bài này từ 1974 đến 1975 đảm trách Trưởng Tổng Đài Hành Quân của Đại Đội 14 Thám Kích Biệt Động, Liên Đoàn 14 BĐQ, Liên Đoàn Trưởng Trung tá Chung Thanh Long, Liên Đoàn Phó Thiếu tá Đào Trọng Vương).
Vào tháng 6 năm 1962, ba tiểu đoàn thứ nhất của Binh chủng Biệt Động Quân được thành lập là Tiểu Đoàn 10 Đặc Biệt (Đà Nẵng), Tiểu Đoàn 20 Đặc Biệt (Pleiku), Tiểu Đoàn 30 Đặc Biệt (Sài G̣n). Tháng 5/1963, hai Tiểu Đoàn 10 và 20 được đổi số hiệu và danh xưng thành Tiểu Đoàn 11 BĐQ và Tiểu Đoàn 21 BĐQ. Tiểu Đoàn 30 Đặc Biệt tuy không đổi số hiệu nhưng thành Tiểu Đoàn 30 BĐQ. Cùng lúc đó Tiểu Đoàn 31 Biệt Động Quân cũng được thành lập. Tiểu Đoàn 31 BĐQ là tiểu đoàn thứ nhất của binh chủng được huấn luyện đầy đủ nhất, được trang bị hùng hậu nhất và cũng là tiểu đoàn thứ nhất được thành lập ở Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân. Hai tiểu đoàn tiếp theo cũng được thành lập ổ Dục Mỹ là Tiểu Đoàn 32 và Tiểu Đoàn 22 BĐQ .
Theo thống kê của Tổng Cục Quân Huấn vào năm 1973. Quân nhân trong Binh chủng Biệt Động Quân có 40% gốc miền Nam, 35% gốc miền Trung, 20% là đồng bào thiểu số, 4% gốc Sài G̣n và 1% gốc miền Bắc (Nhảy Dù: 37% gốc miền Bắc, 15% gốc miền Nam, 10% gốc miền Trung, 6% gốc Sài G̣n. Thuỷ Quân Lục Chiến: 32.5% gốc miền Nam, 29.6% gốc miền Trung, 22.6% gốc miền Bắc và 13% gốc Sài g̣n ).
Trong một thống kê năm 1970 của Bộ Tư Lệnh Yểm Trợ Quân Sự – Việt Nam (Military Assistance Command – Viet Nam – MACV): Biệt Động Quân là một binh chủng có số người t́nh nguyện đông nhất, trung b́nh từ 8,000 tới 9,000 trong một năm. Tuy nhiên BĐQ lại chiếm số quân nhân đào ngũ đông nhất trong quân lực, từ 3,000 đến 4,000 người trong một năm .
Phân tích nguyên nhân :
Giai đoạn 1. Từ lúc thành lập cho đến năm 1968, các Đại Đội rồi Tiểu Đoàn BĐQ luôn bị đặt trong t́nh trạng sẵn sàng tiếp ứng, tăng phái, v.v. cho các sư đoàn, trung đoàn bộ binh, cho Nhảy Dù, Thủy Quân Luc Chiến và cho cả các Tiểu Khu. Những đơn vị BĐQ thường xuyên bị điều động hành quân liên miên bởi các nơi nhận tăng phái. Những người lính BĐQ rất hiếm khi được đi phép và thường ở một nơi rất xa với gia đ́nh. Đây là lư do họ phải bỏ đơn vị để về thăm nhà. Con số đào ngũ cao tới mức Đại tướng William C. Westmoreland, Tư Lệnh MACV đă có dự tính cho tái tổ chức 20 tiểu đoàn BĐQ thành hai Sư Đoàn nhẹ để tránh t́nh trạng bị xé lẻ và tăng phái các nơi. Hơn nữa, ngành tư pháp và căn cước của Việt Nam không đủ phương tiện xác nhận lư lịch cá nhân. Luật Động Viên ấn định tuổi quân dịch là 18 và phải có thẻ căn cước, nhưng với tuổi 17 chỉ cần một tờ giấy Khai Sinh là có thể t́nh nguyện vào quân đội.
Giai đoạn 2. Sau biến cố năm Mậu Thân 1968, Luật Tổng Động Viên đă hạ tuổi quân dịch xuống c̣n 17, đương nhiên tuổi t́nh nguyện cũng hạ xuống c̣n 16. Cũng từ năm 1969 đến 1971, v́ nhu cầu nhân lực cho chiến cuộc, Tổng Cục Quân Huấn có quy định nếu t́nh nguyện vào quân đội sẽ được tặng thưởng $4,500, gọi là tiền đầu quân (năm 1972 về sau tiền đầu quân lên $6,000).
Đúc kết
thống kê: Trong thực tế, số quân nhân trong quân đội,
nói chung là đào ngũ khá cao. Tuy nhiên sau khi đào ngũ th́
ít có ai đi theo kẻ địch là cộng sản, họ
chỉ về thăm nhà môt thời gian rồi làm khai sinh với
tên mới t́nh nguyện trở lại quân đội. V́ thế
tuy t́nh trạng đào ngũ khá cao nhưng con số người
nhập ngũ c̣n cao hơn nữa. Tất cả chỉ v́
chiến sự mỗi ngày thêm khốc liệt, các
đơn vị phải hành quân liên miên, người lính xa
nhà quá lâu. Họ phải tự “ḿnh cấp phép cho ḿnh”, về
thăm nhà rồi trở lại quân đội với danh
tính mới.
Bên cạnh những chi tiết nêu trên c̣n có một trường
hợp khác gọi là “lính mùa”. Số này t́nh nguyện nhập
ngũ chủ yếu nhắm vào ba tháng lương ở
quân trường và tiền thưởng đầu quân. Sau
khi ra trường, lúc trên đường di chuyển về
đơn vị mới hoặc nằm chờ ở hậu
cứ, v.v. đương sự sẽ t́m mọi cách bỏ
trốn với số tiền khá lớn trong túi. Một hai
tháng sau, đương sự lại làm khai sinh mới và
nhập ngũ tiếp ở các đơn vị hay binh chủng
khác. Đây là một thực tế thật đáng buồn
nhưng cũng may chỉ là một con số rất nhỏ.
Bài viết này tuy được tham khảo từ các
nguồn tài liệu của Mỹ lẫn Việt, cũng
như phỏng vấn các vị đàn anh qua điện
thoại. Tuy vậy vẫn có thiếu sót hay những chi tiết
không chính xác. Rất mong những ai biết được
thêm chi t́ết nào, hay sai lầm ở đâu xin vui ḷng liên lạc
Tập San BĐQ để giúp chúng tôi bổ xung thêm hoặc
hiệu đính lại những sơ suất đó. Cảm
ơn quư vị trước. BĐQ Đỗ Như Quyên
(Ranger Charlie Brown Phương).
Theo tài liệu [9] : Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số đơn vị BĐQ, trong đó có Tiểu đoàn 82 BĐQ từ vùng II, Liên Đoàn 8 BĐQ gồm các Tiểu Đoàn 84, 86, 87; Liên Đoàn 7, 9 BĐQ đă chiến đấu đến giờ thứ 25. Kể cả sau khi có lệnh ngưng bắn, một số lớn vẫn chiến đấu không chịu buông súng theo lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh.
Sau khi Sàigon sụp đổ, Thiếu Tướng Chỉ huy Trưởng BĐQ Đỗ Kế Giai, toàn bộ ba Chỉ huy Trưởng BĐQ Quân Khu, toàn bộ 15 Liên đoàn Trưởng Liên đoàn BĐQ, trên 90% các Tiểu Đoàn Trưởng, đa số Sĩ Quan, Hạ sĩ Quan và binh sĩ đều đă ở lại, chấp nhận số phận đen tối dành cho họ.
Các cấp
chỉ huy BĐQ bị bọn ngụy quyền cộng sản
liệt vào danh sách thành phần tối nguy hiểm, bị
đầy đọa tàn nhẫn trong các trại tù CS trên 10
năm. Điển h́nh là Thiếu Tướng Chỉ Huy
Trưởng, một số Sĩ Quan cao cấp BĐQ,
đă trải dài cuộc đời suốt 17 năm trong
tù ngục CSVN.
Ngày cuối cùng của tháng tư đen, BĐQ đă chịu
chung số phận đắng cay, buồn tủi, đau
xót, tuyệt vọng như Quân Lực VNCH, như tất cả
Quân, Dân, Cán, Chính miền Nam. Rất nhiều trong số họ
đă tuẫn tiết.
Theo tài liệu [5] : Biến cố 1975 như một cơn động đất dữ dội làm sụp đổ hoàn toàn trung tâm huấn luyện. Toàn bộ cư dân gồm quân nhân từ ba trung tâm huấn luyện cùng gia đ́nh họ đều chạy khỏi Dục Mỹ, tan tác hăi hùng như mảnh vỡ của một trái phá…

Người dân di tăn chạy giặc cộng – H́nh trích từ tài liệu [5]
Thị trấn bỗng chốc như bị thần đèn mang đi đâu mất.
Dục Mỹ trở lại là buôn sim hoang vắng thuở nào.
Cũng c̣n một số người ở lại v́ họ không biết đi đâu về đâu và họ trở thành dân của một vùng kinh tế mới mang tên Ninh Sim.
Và người dân Ninh Sim đă phải làm ǵ để tồn tại khi 100% mang trên đầu bản án lư lịch xấu, con cái chắc chắn không được vào đại học, người thân không biết c̣n sống hay đă chết trong các trại cải tạo?
Nếu người Ninh Ḥa khi ấy kiếm sống bằng cách bám vào bến xe đ̣ và ga xe lửa với các chuyến đi buôn lậu gạo, đường, thuốc lá, đạp xe ba gác, làm phu khuân vác …th́ người dân Ninh Sim Dục Mỹ kiếm sống bằng cách bám vào núi rừng. Họ lên núi đào khoai mài, cắt tranh, lấy đót. Họ “ngậm ngải t́m trầm” và có người đă mất xác trong rừng sâu núi thẳm. Họ chặt củi, hái trái rừng, trồng khoai ḿ, trồng mía. Họ t́m cách sống trong im lặng, chịu đựng mặc cho loa phường ngày ngày vang lên giọng tự hào chiến thắng giặc Mỹ để toàn dân xây dựng thiên đường xă hội chủ nghĩa (Sic).
Và tượng đá Bồng Con trên non cao kia chắc đă nhiều lần rơi lệ thương cho cảnh con người bức hại con người.

Núi Vọng Phu mà nay không c̣n nửa bởi v́ bọn ngụy quyền cộng sản phá hủy để lấy đá vôi đem bán – H́nh trích từ tài liệu [5]
Phụ đề : Đơn vị dân sự chiến đấu & Biệt Động Quân Biên Pḥng
Theo tài liệu [7] :
Từ cuối năm 1961, CIA đă xây dựng một kế hoạch mang tên “Chương Tŕnh Pḥng Vệ Xóm Làng” (Village Defense Program – VDP) nhằm tách rời các buôn làng dân tộc thiểu số khỏi ảnh hưởng tuyên truyền của cộng phỉ; đồng thời xây dựng một lực lượng vũ trang gồm người dân tộc thiểu số để làm tăng thêm khả năng chống xâm nhập của cộng phỉ vào những khu vực hẻo lánh, tăng khả năng kiểm soát chiến tranh ở vùng Cao Nguyên.
Chương tŕnh này dẫn đến việc h́nh thành các trại Biệt Kích Dân Sự ở Cao Nguyên, chuyên thực hiện các nhiệm vụ phá hoại, ngăn chặn đường xâm nhập của các đơn vị cộng sản từ Bắc xăm nhập vào Nam.
Tháng 2 năm 1962, các đơn vị Biệt Kích Dân Sự này chính thức hợp thành Lực Lượng Dân Sự Chiến đấu (Civilian Irregular Defense Group – CIDG), do CIA trực tiếp thực hiện, nằm ngoài sự quản lư của chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa.
Ngày 23 tháng 77 năm 1962, theo Quyết định 57 An Ninh Quốc Gia của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ, CIA sẽ bàn giao tất cả những hoạt động bán quân sự, kể cả Lực Lượng Dân Sự Chiến đấu, cho Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam.
Sự h́nh thành một Lực Lượng Biệt Kích Dân Sự vũ trang không chịu sự kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng ḥa cũng dẫn đến những hệ lụy có tác động không nhỏ. Do mâu thuẫn sắc tộc, sự thiếu quan tâm, thậm chí kỳ thị, của chính quyền Việt Nam Cộng ḥa đă góp phần dẫn đến việc nhiều Biệt Kích Quân người dân tộc thiểu số tại Việt Nam đang chiến đấu cho Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ và Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu đă tham gia phong trào ly khai BAJARAKA. Dù sao, dưới sự dàn xếp của người Mỹ, những mâu thuẫn tạm thời chưa bùng nổ lớn. Các Biệt Kích Quân người dân tộc thiểu số tại Việt Nam vẫn chiến đấu dưới quyền chỉ huy của người Mỹ cho đến tận năm 1970, khi các đơn vị thuộc Lực lượng Dân Sự Chiến Đấu được người Mỹ bàn giao một phần cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và được cải tổ thành Lực lượng Biệt động quân Biên pḥng.
Theo tài liệu [9] : Theo chỉ thị 100-9 của Bộ TTM/ Liên Quân (LQ)/ QLVNCH, ngày 22 tháng 5 năm 1970, thiết lập tại mỗi quân đoàn một Bộ Chỉ Huy BĐQ (ngoài ban Tham Mưu, c̣n có một đại đội truyền tin, một đại đội yểm trợ) đảm trách nhiệm vụ chỉ huy các đơn vị dân sự chiến đấu (Civilian Irregular defense group CIDG) .
Cùng với sự tiếp nhận và tái tổ chức các trại Biệt Kích thuộc Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu thành các Tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên pḥng, cũng như các Liên đoàn thuộc Lực lượng Đặc Biệt vừa bị giải thể thành Liên Đoàn Biệt Động Quân thứ 7.
Việc sáp nhập, tái tổ chức CIDG và Biệt Động Quân kéo dài tới ngày 4 tháng 01 năm 1971 mới hoàn chỉnh thành 37 Tiểu đoàn BĐQ Biên Pḥng, sau nhiều cuộc bàn luận giữa Bộ TTM/ Liên Quân/ QLVNCH, MACV, BTL Quân Đoàn và cố vấn Quân Đoàn.
Ø Quân Đoàn I có 8 TĐ/ BĐQ Biên Pḥng ;
Ø Quân Đoàn II có 12 TĐ/BĐQ Biên Pḥng ;
Ø Quân Đoàn III có 9 TĐ/BĐQ Biên Pḥng ;
Ø Quân đoàn IV có 8 TĐ/BĐQ Biên Pḥng.
Tính đến cuối năm 1971, lực lượng Biệt Động Quân có 21 Tiểu đoàn Biệt Động quân chính quy và 37 Tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên pḥng (tổng cộng 58 tiểu đoàn ) .
Mỗi Quân khu đều tổ chức Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân của Quân đoàn, chỉ huy 1 Liên Đoàn Biệt Động Quân chính quy và một số Tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Pḥng. Riêng các Liên đoàn 5, 6, 7 do Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung Ương trực tiếp chỉ huy.

Thiệp chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968 của Binh Chủng Biệt Động Quân-H́nh trích từ tài liệu [13]

Thiệp chúc Tết Xuân Nhâm Tư 1972 của Binh Chủng Biệt Động Quân- H́nh trích từ tài liệu [13]
Trước t́nh h́nh chiến tranh khốc liệt, và quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, tháng 9 năm 1973, Đại Tướng Cao Văn Viên đưa ra kế hoạch tái tổ chức lại 58 Tiểu đoàn Biệt Động Quân (kể cả Biệt Động Quân Biên Pḥng) thành 45 Tiểu đoàn, bỏ các đồn trại Biên Pḥng (trừ một số các đồn trại ở những nơi xung yếu) để h́nh thành Lực Lượng Trừ Bị ở cấp Quân đoàn và Tổng Trừ Bị. Theo đó, 45 tiểu đoàn Biệt Động Quân sẽ tổ chức thành 15 Liên Đoàn, trong đó có 2 Liên Đoàn Tổng trừ bị (sau tăng thêm Liên đoàn 4 rút từ Quân đoàn IV về).
Theo tài liệu [9] : Trong kế hoạch này , Giải tán Biệt Khu 44 v́ t́nh h́nh Quân khu IV lắng diụ (đơn vị chủ lực và du kích việt cộng đă bị loại ra khỏi ṿng chiến). Giải thể 8 TĐ/ BĐQ biên pḥng thuộc Quân Khu IV, bổ sung cho các tiểu đoàn BĐQ/ QK I và QK II đang thiếu hụt quân số.
Các Liên đoàn này được bố trí như sau:
Quân Khu 1 : Các Liên Đoàn 11,12 (Liên Đoàn 1 cũ), 14 và 15;
Quân Khu 2 : Các Liên Đoàn 21,22,23 (Liên Đoàn 2 cũ), 24 và 25;
Quân Khu 3 : Các Liên Đoàn 31 (Liên Đoàn 3 cũ), 32 (Liên Đoàn 5 cũ) và 33;
Các Liên đoàn 4, 6 và 7 thuộc Lực Lượng Tổng Trừ Bị cho Bộ Tổng Tham Mưu.
Lực lượng Biệt Động Quân vào những năm cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam liên tục được tăng cường, nhằm tổ chức một lực lượng trừ bị mạnh để thay thế cho Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đang bị mắc kẹt với chiến trường Quân khu I.
Phối trí lại 58 TĐ/BĐQ (kể cả BĐQ biên pḥng) c̣n 45 Tiểu đoàn kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1974 như sau:
a. Quân khu I gồm có:
ü Liên đoàn 11 BĐQ: các tiểu đoàn 68, 69, 70.
ü Liên đoàn 12 BĐQ: các tiểu đoàn 21, 37, 39.
ü Liên đoàn 14 BĐQ: các tiểu đoàn 71, 78, 79.
ü Liên đoàn 15 BĐQ: các tiểu đ̣an 60, 61, 94.
b. Quân khu II gồm có:
ü Liên đoàn 21 BĐQ: các tiểu đoàn 72, 89, 96.
ü Liên đoàn 22 BĐQ: các tiểu đoàn 62, 88, 95.
ü Liên đoàn 23 BĐQ: các tiểu đoàn 11, 22, 23.
ü Liên đoàn 24 BĐQ: các tiểu đoàn 63, 81, 82.
ü Liên đoàn 25 BĐQ: các tiểu đoàn 67, 76, 90.
c. Quân khu III gồm có:
ü Liên đoàn 31 BĐQ: các tiểu đoàn 31, 36, 52.
ü Liên đoàn 32 BĐQ: các tiểu đoàn 30, 33, 38.
ü Liên đoàn 33 BĐQ :các tiểu đoàn 64, 83, 92.
d. Tổng trừ bị (trực thuộc Bộ TTM/QLVNCH ) gồm có:
ü Liên đoàn 4 BĐQ: các tiểu đoàn 42, 43, 44.
ü Liên đoàn 6 BĐQ: các tiểu đoàn 34, 35, 51.
ü Liên đoàn 7 BĐQ: các tiểu đoàn 32, 85, 58.
Cuối năm 1974, Liên đoàn 8 được thành lập, tháng 3 năm 1975, Liên Đoàn 9 được thành lập. Một dự định tổ chức các đơn vị Biệt Động Quân thành cấp Sư Đoàn để làm Lực lượng Trừ bị Chiến lược đă được h́nh thành. Tuy nhiên t́nh h́nh đă quá trễ.
Lực lượng Biệt Động Quân chỉ c̣n lại 8 Liên đoàn, dự kiến sẽ tổ chức thành 3 sư đoàn Biệt Động Quân, đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân do Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai làm Tư Lệnh, Đại tá Trần Công Liễu làm Tham mưu trưởng. Hai Bộ Tư lệnh cấp Sư Đoàn được thành lập gồm Sư Đoàn 101 do Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn làm Tư lệnh, và Sư Đoàn 106 do Đại tá Nguyễn Văn Lộc (nguyên Tham Mưu Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Trung ương) làm Tư lệnh. Tuy nhiên, tốc độ thành lập các Sư Đoàn này không theo kịp với tốc độ hành quân của quân cộng sản. Các đơn vị Biệt Động Quân chiến đấu trong những giờ cuối cùng của chiến tranh với đội h́nh cấp Tiểu đoàn, không thể chống nổi với đội h́nh quân đoàn hợp thành với thế mạnh áp đảo của cộng sản , lần lượt tan ră. Đơn vị buông súng ră ngũ cuối cùng trưa 30 tháng 4 năm 1975 là Tiểu đoàn 43, sau khi nhận được lệnh đầu hàng từ Tổng Thống Dương Văn Minh và Tư Lệnh Đỗ Kế Giai.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Hu%E1%BA%A5n_luy%E1%BB%87n_Bi%E1%BB%87t_%C4%91%E1%BB%99ng_qu%C3%A2n_D%E1%BB%A5c_M%E1%BB%B9 Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ .
2. https://www.facebook.com/oldsaigon75/posts/trung-t%C3%A2m-hu%E1%BA%A5n-luy%E1%BB%87n-bi%E1%BB%87t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%C3%A2n-%E1%BB%9F-th%E1%BB%8B-tr%E1%BA%A5n-d%E1%BB%A5c-m%E1%BB%B9-x%C3%A3-ninh-sim-qu%E1%BA%ADn-ninh-h%C3%B2a-/3100970513285197/ Sài G̣n Xưa - 16 juillet 2020.
3. http://bietdongquan.org/munau8/so28/truongducmy.htm Ḷ Luyện Thép cuả BĐQ Nhật Hồng Nguyễn-Thanh-Vân.
4. https://ducmyblog.blogspot.com/2009/12/duc-my-qua-khu-oai-hung-duc-my-truoc.html Dục Mỹ - Quá Khứ Oai Hùng - 5/12/09 - Dũng-trọc
Saigon, 03/12/2009 .
5. https://www.buctranhvancau.com/new-blog/2021/7/6/th-trn-bin-mt-huyn-chiu Thị trấn biến mất (Huyền Chiêu) — Bức Tranh Vân Cẩu Tuevan Nguyen - July 6, 2021 .
6. http://bietdongquan.org/tailieu/bietdongquan2/trungtamhuanluyenbdq.htm Quân Luc65 Việt Nam Cộng Ḥa- Biệt Động Quân-Tổng Hội Ái Hữu Biệt Động Quân Việt Nam - BĐQ Đỗ Như Quyên (Ranger Charlie Brown Phương) .
7. https://linhvnch.wordpress.com/biet-dong-quan-vnch/ Biệt Động Quân VNCH .
8. http://batkhuat.net/tl-4vungchienthuat-VNCH.htm Trường Bộ Binh Thủ Đức- Khóa 8B+C/72 Bất Khuất- Sàig̣n trong tôi/ Trịnh Khánh Tuấn- Bốn Vùng Chiến Thuật VNCH.
9. https://dongsongcu.wordpress.com/2021/09/14/biet-dong-quan-qlvnch-bdq-nguyen-kimbien/ ḍng sông cũ Biệt Động Quân QLVNCH – BĐQ Nguyễn Kim Biên -Posted on September 14, 2021 by dongsongcu .
10. https://www.hinhanhlichsu.org/2021/02/quan-luc-viet-nam-cong-hoa-1955-1975.html Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (1955-1975) .
11. Phạm Phong Dinh-Chiến Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Tủ sách Vinh Danh-Tháng 8.20027 .
12. http://tqlcvn.org/thovan/van-ducmy-loluyenthep.htm Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa-Thủy Quân Lục Chiến -Dục Mỹ, Ḷ Luyện Thép- Trích hồi kư "Người lính Tổng trừ bị" - Giang Văn Nhân .
13. https://dongsongcu.wordpress.com/2025/01/03/62-thiep-chuc-tet-cua-cac-quan-binhchung-quan-luc-vnch-nvq-suu-tam/ 62 Thiệp Chúc Tết của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – Posted on January 3,2025 by dongsongcu-31/12/2024- NVQ sưu tầm.